Còn nhiều khó khăn khi người dân ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Những năm gần đây, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật (KHKT) vào sản xuất nông nghiệp đã trở thành xu hướng tất yếu nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và tăng thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình đưa tiến bộ KHKT vào thực tiễn sản xuất vẫn còn gặp không ít khó khăn.

Mô hình sản xuất dưa trong nhà màng tại xã Như Xuân.
Thực tế cho thấy, nhiều hộ dân đã mạnh dạn áp dụng KHKT vào sản xuất như sử dụng giống cây trồng, vật nuôi năng suất, chất lượng cao; hệ thống tưới tiết kiệm nước; cơ giới hóa trong sản xuất; ứng dụng chế phẩm sinh học; công nghệ số trong quản lý, sản xuất... Những mô hình này đã góp phần giảm chi phí lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế và từng bước thay đổi tập quán canh tác truyền thống của người dân.
Tuy nhiên, hiện nay, việc ứng dụng KHKT vào sản xuất vẫn còn hạn chế. Một trong những khó khăn lớn nhất là nguồn vốn đầu tư còn hạn chế, trong khi chi phí để mua sắm máy móc, xây dựng hệ thống nhà màng, nhà lưới, đầu tư các mô hình chăn nuôi hiện đại khá lớn; nhất là đa số hộ sản xuất có quy mô nhỏ lẻ, khả năng tích lũy vốn còn thấp.
Ông Trần Xuân Nhạc, người có nhiều năm trồng cây ăn quả tại xã Hóa Quỳ, cho biết: “Tuy đã tìm hiểu những hiệu quả mang lại khi trồng cây ăn quả theo tiêu chuẩn VietGAP nhưng đối với diện tích sản xuất của gia đình, tôi vẫn chưa áp dụng bởi cần phải có vốn đầu tư lớn. Bên cạnh đó, đối với các loại cây ăn quả như bưởi, cam, thời gian thu hoạch khá dài, không có vốn xoay vòng để đầu tư phát triển sản xuất”.
Theo anh Chử Thanh Hải, giám đốc HTX sản xuất nông nghiệp Thành Công, xã Xuân Bình, mặc dù việc sản xuất cây ăn quả theo hướng VietGAP mang lại nhiều lợi ích cho người trồng nhưng cần vốn lớn đầu tư sản xuất và khoản chi phí khác, như: tư vấn, lấy mẫu xét nghiệm, giấy chứng nhận... Tại địa phương, nguồn nhân lực phục vụ cho việc tư vấn, hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt theo tiêu chuẩn VietGAP còn thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng. Thực tế cho thấy, số hộ dân ứng dụng KHKT vào sản xuất chưa nhiều do thiếu cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ sản xuất nông nghiệp của người dân không đều nên việc áp dụng phương thức canh tác tiến bộ trên diện rộng còn hạn chế”.
Bên cạnh đó, khó khăn về quy mô sản xuất cũng là rào cản lớn khi hiện nay, tại nhiều địa phương, tình trạng đất đai manh mún, nhỏ lẻ khiến việc cơ giới hóa đồng bộ gặp nhiều trở ngại. Tỷ lệ áp dụng KHKT giữa khu vực đồng bằng và miền núi còn chênh lệch khá lớn do tập quán canh tác còn hạn chế; điều kiện thời tiết, khí hậu diễn biến phức tạp, sâu bệnh phát sinh nhiều... Cùng với đó, không ít hộ dân sau khi đầu tư sản xuất theo quy trình tiên tiến vẫn gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, giá bán chưa tương xứng với chi phí bỏ ra. Đồng thời, chưa hình thành được liên kết sản xuất giữa doanh nghiệp, HTX và người dân nên đầu ra của sản phẩm còn bị ảnh hưởng bởi biến động của thị trường khiến nhiều hộ dân chưa mạnh dạn mở rộng quy mô và đầu tư công nghệ.
Trong chăn nuôi, việc đầu tư ứng dụng KHKT không mang lại hiệu quả như kỳ vọng do thị trường tiêu thụ sản phẩm không ổn định, khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh tế chưa tương xứng với mức độ đầu tư. Anh Trịnh Đình Đồng, chủ trang trại chăn nuôi gà quy mô lớn tại xã Quý Lộc, cho biết: “Chi phí đầu tư, vận hành máy móc cao, trong khi giá bán của các sản phẩm chăn nuôi không ổn định; nhất là chưa có sự phân định rõ ràng về giá trị giữa sản phẩm chăn nuôi sản xuất theo phương thức truyền thống với sản xuất áp dụng công nghệ cao. Bên cạnh những trang trại quy mô lớn thì hầu hết là chăn nuôi nông hộ nên người chăn nuôi còn e dè khi áp dụng KHKT. Hiện nay, tôi đã phải tạm dừng hoạt động một số máy móc để tiết kiệm chi phí sản xuất”.
Trước những khó khăn trên, các ngành chức năng và địa phương đang tăng cường công tác tuyên truyền, tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho người dân; đồng thời triển khai các chính sách hỗ trợ về vốn, giống, vật tư... và khuyến khích phát triển các mô hình liên kết sản xuất. Nhiều địa phương cũng chú trọng xây dựng các mô hình trình diễn để người dân tham quan, học hỏi và áp dụng vào thực tế. Để KHKT thực sự trở thành động lực thúc đẩy phát triển nông nghiệp, cần có sự chung tay của các cấp, ngành, doanh nghiệp và người dân. Đặc biệt cần đẩy mạnh khảo nghiệm, thử nghiệm các giống mới trong trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Đồng thời, quan tâm đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ khuyến nông để chuyển giao cũng như đồng hành cùng người dân trong quá trình ứng dụng KHKT vào sản xuất nông nghiệp; hỗ trợ vốn đầu tư; mở rộng liên kết sản xuất; xây dựng thị trường tiêu thụ ổn định từng bước nâng cao giá trị sản xuất và phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững.











