Con trai Anh hùng Lê Thị Riêng: Chia tay mẹ lúc 5 tuổi rồi cách biệt một đời

Hơn 60 năm qua, ông Lê Chí Công sống cùng những mảnh ký ức chắp vá về mẹ Lê Thị Riêng, cuộc chia tay năm 5 tuổi cũng là lần cuối hai mẹ con được gặp nhau...

Sài Gòn, đầu những năm 1960.

Chiến tranh ngày một lan rộng, những cơ sở cách mạng hoạt động trong bí mật, liên tục đối mặt với nguy cơ bị lộ, bị bắt. Với nhiều cán bộ hoạt động bí mật, con em không thể tiếp tục ở lại bên cha mẹ, bởi sự hiện diện của các em có thể trở thành dấu vết để kẻ địch lần ra cả một mạng lưới.

Nhiều cán bộ buộc phải gửi con đến nơi an toàn, chấp nhận cảnh chia ly để bảo vệ gia đình và giữ bí mật cho tổ chức.

Theo sự sắp xếp của tổ chức, các em được bí mật đưa rời miền Nam ra Bắc. Điểm tập kết, chuyển giao đặt tại Nam Vang (nay là Phnom Penh, Campuchia) để bảo đảm an toàn cho cả hành trình.

Ảnh gia đình anh hùng, liệt sĩ Lê Thị Riêng. (Ảnh: Bảo tàng Lịch sử quốc gia)

Ảnh gia đình anh hùng, liệt sĩ Lê Thị Riêng. (Ảnh: Bảo tàng Lịch sử quốc gia)

Chí Công khi ấy mới khoảng 5 tuổi, anh trai (Minh Chánh) hơn một tuổi. Ký ức về buổi cuối cùng ấy về mẹ cùng chỉ còn vài hình ảnh rời rạc... và hai cây bút được mẹ khắc tên hai anh em.

Thế rồi, hai anh em theo đoàn bắt đầu hành trình bí mật để ra miền Bắc học tập và được bảo vệ an toàn hơn. Họ chưa đủ lớn để hiểu vì sao phải đi, càng không thể biết cuộc chia tay vội vã hôm ấy sẽ là lần cuối cùng được nhìn thấy mẹ...

Những lá thư của người “Má Miền Nam”

Giữa những ngày tháng Bảy, khi TP.HCM đang khẩn trương tìm kiếm, quy tập hài cốt các liệt sĩ hy sinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 tại Công viên Lê Thị Riêng, chúng tôi may mắn gặp lại “cậu bé Chí Công” năm nào.

Gần sáu thập kỷ đã trôi qua kể từ cuộc chia ly với người mẹ, cậu bé 5 tuổi ngày ấy nay đã bước qua tuổi 70.

Ông Lê Chí Công - con trai Anh hùng Lê Thị Riêng.

Ông Lê Chí Công - con trai Anh hùng Lê Thị Riêng.

Trên bàn khách, ông lặng lẽ đặt ra trước mặt chúng tôi một tập hồ sơ dày. Bên trong là những bức ảnh đen trắng đã ngả màu, những trang báo cũ, những lá thư được bọc trong túi nylon để tránh ẩm và cả những dòng ghi chép mà ông tích cóp suốt nhiều chục năm. Đó không phải tư liệu phục vụ nghiên cứu lịch sử, đó là hành trình của một người con đi tìm lại mẹ mình.

Nhắc đến mẹ, ông không bắt đầu bằng những chiến công hay những trang sử đã được nhiều người biết đến.

Ông mở đầu chân thành và mộc mạc: “Chú nhớ về mẹ không nhiều...”.

Ông kể, sau ngày rời Nam Vang, hai anh em được ông Phạm Hùng (Cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam, Bí thư Trung ương Cục Miền Nam) và vợ là bà Mai Khanh đón về nuôi tại Hà Nội. Trong ký ức của ông, hai người không chỉ là những cán bộ được tổ chức giao nhiệm vụ chăm sóc con em đồng chí, mà thực sự trở thành cha mẹ. Đến tận hôm nay, khi nhắc về họ, ông vẫn giữ cách xưng hô thân thuộc “ba Phạm Hùng” và “mẹ Mai Khanh”.

Chính trong ngôi nhà ấy, hai anh em lớn lên, đi học, trưởng thành như bao đứa trẻ khác, chỉ khác một điều rằng người mẹ ruột của mình vẫn đang ở chiến trường miền Nam, còn mọi tin tức về bà đều phải đi qua những cánh thư.

Sau này, khi đủ lớn để hiểu về cuộc đời mẹ, ông Chí Công mới biết trong những năm tháng xa con, bà Lê Thị Riêng viết rất nhiều thư. Nhưng phần lớn những lá thư ấy không gửi cho hai anh em, mà gửi cho ba Phạm Hùng và mẹ Mai Khanh. Người nhận thư là cha mẹ nuôi, còn người được hỏi thăm trong từng dòng chữ lại là hai đứa con trai ở phương Bắc.

Trong những lá thư ấy, bà hiếm khi kể về công việc mình đang đảm nhiệm, càng không nói đến những hiểm nguy đang bủa vây một người cán bộ hoạt động bí mật. Điều khiến bà bận lòng nhiều nhất vẫn là các con.

Bà hỏi hai cháu dạo này có còn đau ốm không, việc học hành thế nào, đã ngoan hơn chưa, rồi không quên gửi lời cảm ơn ba Phạm Hùng, mẹ Mai Khanh vì đã thay mình chăm sóc hai con. Có những bức thư, gần như toàn bộ nội dung chỉ xoay quanh cuộc sống của hai đứa trẻ, như thể khoảng cách hàng nghìn cây số và khói lửa chiến tranh chưa từng tồn tại.

“Tôi ước một ngày nào đó

Hà Nội ơi? Cho tôi đến thủ đô

Gặp hai con tôi ôm cả vào lòng

Tôi riết mãi không bao giờ buông ra nữa

(Trích bài thơ Ước mơ được bà Lê Thị Riêng viết cho con vào xuân 1963).

Đọc lại những dòng thư của mẹ đã thuộc làu từ hồi mới biết mặt chữ, ông Chí Công không cầm được nước mắt. Ông nói, những dòng chữ ấy không chỉ cho thấy tình mẫu tử của một người phụ nữ, mà còn gợi lên sự khắc nghiệt của chiến tranh, đó là một người mẹ muốn hỏi han con mình cũng phải gửi gắm qua người khác.

Những bức thư ngày càng thưa thớt, đôi khi chỉ là một mảnh giấy học trò nhỏ, không ghi đầy đủ tên người gửi để bảo đảm bí mật. Có lá thư bà ký là ”Má Miền Nam“. Những dòng chữ phải vượt qua nhiều chặng giao liên, từ chiến trường miền Nam qua những cung đường xa xôi mới có thể đến được tay hai đứa trẻ.

Mỗi lá thư tới nơi đã là một lần người mẹ âm thầm trở về với con.

Ông Chí Công kể, trong số những kỷ vật còn lưu giữ, ông trân quý nhất là những lá thư và bài thơ mẹ viết trước ngày chia xa, với những câu thơ ông đã đọc đi đọc lại suốt nhiều chục năm:

”Mẹ nguyện làm một chiến đấu viên

Mẹ chiến đấu cho ngày mai tươi sáng

Cho Bắc Nam thống nhất

Cho đất nước hòa bình Cho mọi người no ấm, quang vinh...“.

 Ông Lê Chí Công và anh trai Lê Minh Chánh (đã mất năm 1993) lúc đã tập kết ra Bắc, ảnh do ông Phạm Hùng chụp. (Ảnh: NVCC)

Ông Lê Chí Công và anh trai Lê Minh Chánh (đã mất năm 1993) lúc đã tập kết ra Bắc, ảnh do ông Phạm Hùng chụp. (Ảnh: NVCC)

”Nhiều bức thư tôi đã thuộc làu, một ít tôi gửi cho Bảo tàng lịch sử Quốc gia và hiện đang trưng bày ở Hà Nội. Qua những dòng thư tôi như thấy má vẫn đang ở đâu đó, động viên anh em tôi phải sống xứng đáng với những gì má đã lựa chọn“, ông Chí Công nói.

Những lá thư giúp ông hiểu mẹ vẫn luôn nhớ con, nhưng chỉ chừng ấy thôi vẫn chưa đủ lấp đầy khoảng trống mà chiến tranh để lại.

Đi tìm mẹ trong ký ức của người khác

Ông nói, ký ức của mình về mẹ chỉ còn lại ”một chút xíu“ trong khoảnh khắc ngày chia tay ở Nam Vang, vì trước đó, dù vẫn ở Sài Gòn, nhưng gia đình không được gặp nhau nhiều.

”Trước khi được gửi ra Bắc, hai anh em tôi đã được nhiều người khác nuôi tại Miền Nam. Hồi đấy chúng tôi không hiểu tại sao ba má lại làm thế, tận sau này mới biết là để địch không phát hiện gia đình các chiến sĩ cách mạng“, ông nói.

Ngày chia tay còn quá nhỏ, những năm tháng sau đó lại lớn lên xa mẹ. Đến khi đủ tuổi để hiểu và muốn hỏi nhiều hơn thì người mẹ ấy đã không còn. Bởi thế, gần như cả cuộc đời, ông đi tìm mẹ trong ký ức của những người khác.

Có một thời gian rất dài, hễ nghe ai từng công tác với mẹ còn sống, ông lại tìm đến. Không ít người khi ấy đã ngoài bảy, tám mươi tuổi, ký ức cũng đã vơi theo năm tháng, nhưng ông vẫn kiên nhẫn ngồi nghe, có khi chỉ để ghi lại một chi tiết rất nhỏ về người phụ nữ mà mình gọi là mẹ.

Ông tìm đến những đồng chí từng hoạt động cùng Anh hùng liệt sĩ Lê Thị Riêng, những người từng sống chung một cơ quan, từng chia nhau bữa cơm, từng chứng kiến những ngày bà tất bật giữa công việc và nỗi nhớ gia đình.

Có những cuộc gặp chỉ kéo dài vài chục phút, có cuộc trò chuyện kéo dài cả buổi, nhưng khi ra về, ông đều cẩn thận ghi chép lại, sợ rằng nếu không viết xuống, một ngày nào đó những ký ức ấy sẽ mất đi cùng tuổi già của các nhân chứng.

Điều ông hỏi không phải là những chiến công đã được lịch sử ghi nhận, ông muốn biết người mẹ của mình trong những khoảnh khắc đời thường.

”Mẹ tôi có hay cười không? Khi rảnh mẹ thường làm gì? Mỗi lần nhắc đến anh em tôi, mẹ nói những gì?“, ông kể lại.

Hàng chục năm qua, ông Lê Chí Công sống cùng những mảnh ký ức chắp vá về mẹ Lê Thị Riêng, cuộc chia tay năm 5 tuổi cũng là lần cuối hai mẹ con được gặp nhau.

Hàng chục năm qua, ông Lê Chí Công sống cùng những mảnh ký ức chắp vá về mẹ Lê Thị Riêng, cuộc chia tay năm 5 tuổi cũng là lần cuối hai mẹ con được gặp nhau.

Có người kể bà rất nghiêm khắc trong công việc nhưng lại sống chan hòa, gần gũi với đồng đội. Có người nhớ bà mê đọc sách, yêu thơ, mỗi khi có được vài phút thảnh thơi lại cầm một cuốn sách trên tay.

Người khác lại nhớ như in ánh mắt của bà mỗi lần nhận được tin từ miền Bắc, bởi sau tất cả những công việc bộn bề, điều khiến bà yên lòng nhất vẫn là biết hai con trai đang khỏe mạnh, được chăm sóc chu đáo.

Ông Chí Công kể, mỗi câu chuyện như vậy đều khiến hình dung của ông về mẹ trở nên rõ nét hơn một chút. Nếu những trang sử giúp ông biết bà đã sống và cống hiến như thế nào cho cách mạng, thì ký ức của đồng đội lại giúp ông hiểu bà đã sống như một người phụ nữ bình dị ra sao.

”Có những điều nghe xong tôi thấy rất vui, vì trước đó mình đâu biết mẹ thích đọc sách, thích thơ, hay quan tâm đến mọi người như vậy“, ông cười hiền.

Rồi ông dừng lại rất lâu trước khi nói tiếp: ”Chiến tranh lấy mất của tôi quá nhiều thời gian để được làm con“.

Câu nói ấy khiến chúng tôi nhớ đến xấp thư đã úa vàng đặt trên bàn. Suốt hàng chục năm, đó gần như là nơi duy nhất ông có thể gặp mẹ.

Mỗi lần mở từng phong bì cũ, đọc lại từng dòng chữ đã nhòe theo thời gian, ông không chỉ đọc để biết mẹ đã viết gì, mà còn cố hình dung, tưởng tượng ra rằng mẹ đang ngồi ở một góc căn cứ nào đó, tranh thủ từng phút bình yên hiếm hoi để viết thư gửi ra miền Bắc.

Bia tưởng niệm Anh hùng Lê Thị Riêng và Trần Văn Kiểu tại Công viên Lê Thị Riêng (phường Hòa Hưng, TP.HCM).

Bia tưởng niệm Anh hùng Lê Thị Riêng và Trần Văn Kiểu tại Công viên Lê Thị Riêng (phường Hòa Hưng, TP.HCM).

Ông bảo, có những bức thư mình đã đọc không biết bao nhiêu lần. Đến mức gần như thuộc lòng từng câu chữ. Không phải vì nội dung có gì đặc biệt, mà bởi đó là những dòng chữ ít ỏi còn lưu giữ hơi ấm của mẹ.

Gần sáu mươi năm sau ngày mẹ hy sinh, ông vẫn miệt mài nhặt nhạnh từng mẩu ký ức của những người còn sống, như thể chỉ cần biết thêm một chi tiết về mẹ, khoảng trống trong lòng mình sẽ được lấp đầy thêm một chút.

Nhân chứng kể phút cuối của Anh hùng Lê Thị Riêng

Bà Phùng Ngọc Anh, nữ chiến sĩ biệt động Sài Gòn, là người cùng bị giam giữ và đưa lên chiếc xe bít bùng với Anh hùng Lê Thị Riêng và Anh hùng Trần Văn Kiểu chiều mùng 2 Tết Mậu Thân 1968.

Theo lời bà Ngọc Anh, khi chiếc xe rời Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn, ông Trần Văn Kiểu đã linh cảm tình thế bất lợi.

Ông nắm tay hai người đồng đội, rồi xót xa nói: ”Tội cho Ngọc Anh, nó còn trẻ quá“.

Khi ấy, bà Ngọc Anh mới 27 tuổi. Đến một đoạn đường vắng, những tràng trung liên bất ngờ bắn thẳng vào thùng xe. Giữa tiếng đạn dồn dập, ông Trần Văn Kiểu hô lớn ”Đả đảo!“, bà Lê Thị Riêng và bà Ngọc Anh cùng hô theo.

Ông Kiểu trúng đạn, tiếng hô yếu dần rồi im bặt. Sau loạt đạn đầu tiên, bà Lê Thị Riêng vẫn gượng dậy, đạp cửa và yêu cầu những người bên ngoài mở xe.

Khi một người cầm súng lục tiến đến hỏi bà đang hô gì, bà nhìn thẳng ra ngoài và tiếp tục hô lớn.

Hai phát súng sau đó găm vào ngực trái khiến bà ngã xuống bên cạnh ông Trần Văn Kiểu.

Bị thương nhưng còn sống, bà Ngọc Anh nằm bất động giữa hai người đồng đội để tránh bị phát hiện. Đến khi cửa xe được mở và các thi thể được chuyển đi, bà mới dồn sức nói: ”Mấy ông ơi, tôi còn sống“.

Gần 60 năm sau, bà vẫn nhớ rõ bàn tay lạnh dần của liệt sĩ Trần Văn Kiểu, hơi thở cuối cùng của liệt sĩ Lê Thị Riêng và những tiếng hô vang lên giữa các tràng đạn.

THY HUỆ

Nguồn VTC: https://vtcnews.vn/con-trai-anh-hung-le-thi-rieng-chia-tay-me-luc-5-tuoi-va-cach-biet-mot-doi-ar1029999.html