Công an Hà Nội: Chi tiết mức phạt vi phạm an ninh trật tự, đô thị từ 1/7/2026
Bắt đầu từ ngày 01/7/2026, Nghị quyết số 56/2026/NQ-HĐND của HĐND TP Hà Nội chính thức có hiệu lực. Dựa trên tài liệu tuyên truyền, phổ biến chính thức của CATP Hà Nội, infographic dưới đây tổng hợp mức tiền phạt cụ thể đối với 28 hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội và giao thông đô thị mà người dân cùng các cơ sở kinh doanh cần đặc biệt lưu ý để nghiêm chỉnh chấp hành.

Thông tin chung về việc áp dụng xử phạt
Văn bản áp dụng: Nghị quyết số 56/2026/NQ-HĐND do HĐND Thành phố Hà Nội ban hành ngày 15/6/2026.
Cơ quan tuyên truyền, phổ biến: Công an Thành phố (CATP) Hà Nội.
Thời điểm có hiệu lực: Từ ngày 01/7/2026.
Phạm vi: Điều chỉnh mức tiền phạt đối với 28 hành vi vi phạm. Đối với các hành vi vi phạm thực hiện trước ngày 01/7/2026, cơ quan chức năng sẽ áp dụng xử phạt theo Nghị định 282 và Nghị định 168 của Chính phủ.
Nguyên tắc áp dụng mức phạt: Mức phạt tiền đối với các hành vi vi phạm quy định tại Nghị quyết này là mức phạt áp dụng cho cá nhân. Đối với tổ chức có cùng hành vi vi phạm, mức phạt sẽ được nhân gấp 02 lần.
Lĩnh vực trật tự đô thị, giao thông đường bộ
Nghị quyết quy định 04 hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ liên quan trực tiếp đến trật tự đô thị.
Phạt 200.000 - 400.000 đồng: Đối với hành vi dùng xe đẩy làm quầy hàng lưu động trên đường gây cản trở giao thông.
Phạt 400.000 - 500.000 đồng: Đối với hành vi bán hàng rong hoặc bán hàng hóa nhỏ lẻ khác trên lòng đường, trên vỉa hè các tuyến phố có quy định cấm bán hàng.
Phạt 1.600.000 - 2.000.000 đồng: Đối với hành vi không tuân thủ các quy định về dừng xe, đỗ xe tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; dừng xe, đỗ xe trong phạm vi bảo vệ công trình đường sắt, phạm vi an toàn của đường sắt.
Phạt 4.000.000 - 6.000.000 đồng: Đối với hành vi sử dụng trái phép lòng đường, vỉa hè để: họp chợ; kinh doanh dịch vụ ăn uống; bày, bán hàng hóa; sửa chữa phương tiện, máy móc, thiết bị; rửa xe; đặt, treo biển hiệu, biển quảng cáo.
Lĩnh vực đăng ký, quản lý cư trú và Căn cước
Nhóm vi phạm quy định về đăng ký quản lý cư trú (12 hành vi):
Mức phạt 3.000.000 - 6.000.000 đồng (08 hành vi): Điển hình như các vi phạm tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung xác nhận thông tin về cư trú; mua, bán, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn giấy tờ cư trú để làm trái quy định pháp luật; cơ sở lưu trú không thực hiện thông báo lưu trú từ 01 đến 03 người.
Mức phạt 6.000.000 - 12.000.000 đồng (04 hành vi): Áp dụng cho các vi phạm nghiêm trọng hơn như cơ sở lưu trú không thực hiện thông báo lưu trú từ 04 đến 08 người; cho người khác đăng ký cư trú vào chỗ ở của mình để vụ lợi; cản trở công dân thực hiện quyền tự do cư trú; hoặc cản trở, không chấp hành việc kiểm tra cư trú của cơ quan chức năng.
Nhóm vi phạm về Căn cước (02 hành vi):
Mức phạt 3.000.000 - 6.000.000 đồng: Áp dụng đối với hành vi chiếm đoạt, sử dụng trái phép thẻ căn cước công dân, thẻ căn cước, căn cước điện tử, giấy chứng nhận căn cước của người khác; hoặc hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung của các loại giấy tờ này.
4. Lĩnh vực kinh doanh có điều kiện và Quản lý người nước ngoài
Kinh doanh có điều kiện (01 hành vi): Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hoạt động kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự khi chưa được cấp, hoặc bị thu hồi, tước quyền sử dụng, hết hạn sử dụng của Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự.
Quản lý xuất nhập cảnh (07 hành vi): Bao gồm 03 hành vi vi phạm liên quan đến cơ sở lưu trú; 03 hành vi liên quan đến hộ chiếu, giấy thông hành; và 01 hành vi liên quan đến mời, bảo lãnh cho người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú. Tùy vào tính chất, mức tiền phạt có thể ở các khung như 6.000.000 - 10.000.000 đồng, 20.000.000 - 30.000.000 đồng, và cao nhất lên tới 30.000.000 - 40.000.000 đồng.
Lĩnh vực thi hành các biện pháp xử lý hành chính
Mức phạt 1.000.000 - 2.000.000 đồng: Áp dụng cho 02 hành vi vi phạm quy định về thi hành các biện pháp xử lý hành chính. Bao gồm: Không thực hiện nghĩa vụ của người bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; và vi phạm quy định về việc chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc cơ sở cai nghiện bắt buộc


























