Công nghệ 'chắp cánh' cho những sản phẩm văn hóa mới

Sau ba năm kể từ khi chương trình nghệ thuật số “Tinh hoa đạo học” ra mắt tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, công nghệ 3D Mapping tiếp tục được ứng dụng trong nhiều sản phẩm văn hóa, du lịch tại Hà Nội. Từ những câu chuyện về đạo học, lịch sử khoa cử đến dấu ấn kinh thành nghìn năm, công nghệ đang mở ra cách tiếp cận mới, đồng thời tạo thêm dư địa phát triển các sản phẩm công nghiệp văn hóa.

Tiếp nối hành trình sáng tạo trên nền tảng di sản

Ra mắt cuối tháng 10-2023, “Tinh hoa đạo học” được xem là một trong những sản phẩm nghệ thuật số tiên phong tại Hà Nội đưa công nghệ trình chiếu vào không gian di sản, mở ra cách tiếp cận mới trong việc truyền tải các giá trị lịch sử, văn hóa đến công chúng. Từ dấu mốc này, nhiều sản phẩm ứng dụng 3D Mapping tiếp tục ra đời tại các địa điểm văn hóa, di tích của Thủ đô. Có thể kể đến màn trình chiếu “Ngọc Sơn – Đêm huyền bí” tại đền Ngọc Sơn hay “Kinh đô Thăng Long” tại Khu di sản Hoàng thành Thăng Long.

Một phân cảnh trong chương trình nghệ thuật số “Tinh hoa đạo học” ra mắt tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Ảnh: Quỳnh Dương.

Một phân cảnh trong chương trình nghệ thuật số “Tinh hoa đạo học” ra mắt tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Ảnh: Quỳnh Dương.

Riêng tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, 3D Mapping đã được được phát triển thành chuỗi nội dung có tính tiếp nối. Sau “Tinh hoa đạo học”, phim “Sử đá lưu danh” ra mắt năm 2024 và “Vun đắp hiền tài” ra mắt năm 2026 lần lượt khai thác những lát cắt khác nhau về truyền thống khoa bảng, lịch sử Quốc Tử Giám và tinh thần trọng dụng nhân tài. Điều này cho thấy tiềm năng kết hợp công nghệ với chất liệu lịch sử, văn hóa để tạo nên những sản phẩm nghệ thuật có sức hấp dẫn riêng, góp phần mở rộng trải nghiệm của khách tham quan và gia tăng giá trị cho các điểm đến văn hóa.

Điểm chung của các sản phẩm này không chỉ nằm ở việc sử dụng hiệu ứng ánh sáng, âm thanh, hình ảnh hay công nghệ trình chiếu, mà còn ở cách khai thác chính những giá trị lịch sử, văn hóa của địa điểm để xây dựng nội dung nghệ thuật. Di sản không còn đơn thuần là đối tượng để tham quan, tìm hiểu mà trở thành chất liệu sáng tạo, góp phần hình thành những sản phẩm văn hóa có khả năng thu hút công chúng.

Theo Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám, TS. Lê Xuân Kiêu, sau 3 năm trình chiếu thử nghiệm các sản phẩm nghệ thuật số, lượng khách tham quan vào ban đêm đã dần tăng lên và đến nay đạt khoảng 1.200 lượt khách/tháng.

Tuy nhiên, sức hấp dẫn của một sản phẩm trình diễn không thể chỉ được đo bằng độ hoành tráng của hệ thống máy chiếu, cường độ ánh sáng hay những hiệu ứng thị giác. Để giữ chân công chúng và tạo nên giá trị văn hóa lâu dài, yếu tố quyết định vẫn là nội dung, tính sáng tạo và chiều sâu của câu chuyện được kể.

Ông Trương Quốc Toàn, cố vấn các hoạt động văn hóa tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám cho biết, 3 tác phẩm trình chiếu nghệ thuật 3D Mapping tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã cơ bản phản ánh được những giá trị cốt lõi của di tích. Vì vậy, ông cho rằng sẽ không tiếp tục xây dựng phần thứ tư cho chuỗi phim này. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là hoạt động ứng dụng công nghệ và số hóa di sản tại đây sẽ dừng lại. Trong thời gian tới, các chuyên gia dự kiến tiếp tục phát triển thêm những sản phẩm trải nghiệm mới, sử dụng các hình thức thể hiện khác như trình chiếu Immersive (trải nghiệm nhập vai), hiệu ứng phản chiếu hình ảnh… Một trong những ý tưởng đang được triển khai là không gian trải nghiệm sử dụng hiệu ứng kính vạn hoa, khai thác các hoa văn, họa tiết trên bia Tiến sĩ theo một cách thể hiện mới lạ, giúp du khách có thêm cơ hội khám phá vẻ đẹp của di sản. “Điều quan trọng là không nên mặc định rằng cứ ứng dụng công nghệ vào di sản thì phải sử dụng 3D Mapping. Còn nhiều công nghệ đa dạng khác. Vấn đề nằm ở cách chúng ta khai thác và vận dụng để tạo ra những sản phẩm có giá trị. Công nghệ chỉ là phương tiện thể hiện. Ý tưởng và nội dung mới là yếu tố quyết định sức hấp dẫn của sản phẩm”.

Trình chiếu ánh sáng sử dụng hiệu ứng kính vạn hoa. Ảnh: Auralabs.

Trình chiếu ánh sáng sử dụng hiệu ứng kính vạn hoa. Ảnh: Auralabs.

Bên cạnh đó, sản phẩm trình chiếu cũng cần bảo đảm tính chính xác về lịch sử, tôn trọng giá trị nguyên gốc, đồng thời có cách thể hiện phù hợp với đặc trưng kiến trúc và bản sắc của địa điểm. Nếu chỉ tập trung vào hiệu ứng mà thiếu sự đầu tư cho kịch bản, nghiên cứu văn hóa và ngôn ngữ nghệ thuật, sản phẩm rất dễ trở thành một màn trình diễn mang tính thị giác đơn thuần, thiếu khả năng tạo dấu ấn riêng.

Bà Nguyễn Minh Tuyết, một du khách tham quan Văn Miếu - Quốc Tử Giám cho biết: “Đã sống ở Hà Nội hơn 50 năm nhưng đây là lần đầu tiên tôi có dịp tham quan Văn Miếu – Quốc Tử Giám vào ban đêm, đúng dịp khu di tích kỷ niệm 950 năm thành lập. Tôi thực sự bất ngờ và choáng ngợp trước màn trình chiếu 3D Mapping “Tinh hoa đạo học”, “Sử đá lưu danh”, “Vun đắp hiền tài”. Đây là một ý tưởng rất tuyệt vời để kể những câu chuyện lịch sử, văn hóa bằng ngôn ngữ hình ảnh, ánh sáng và âm thanh hiện đại. Đặc biệt, khi những hình ảnh được trình chiếu ngay trên không gian kiến trúc cổ kính của Văn Miếu, tôi cảm nhận câu chuyện như đang hiện ra ngay trước mắt mình, dễ chạm đến cảm xúc và để lại ấn tượng sâu sắc. Tôi nghĩ đây là cách làm rất đáng khuyến khích để di sản đến gần hơn với công chúng, nhất là thế hệ trẻ”.

Từ trình diễn công nghệ đến hệ sinh thái sáng tạo

Trước khi có những sản phẩm trình diễn công nghệ, việc tiếp cận các không gian văn hóa chủ yếu dựa vào tham quan kiến trúc, quan sát hiện vật, đọc tư liệu và nghe thuyết minh. Đây vẫn là những phương thức quan trọng để tìm hiểu di sản, nhưng trước sự thay đổi trong nhu cầu thưởng thức văn hóa, đặc biệt ở nhóm công chúng trẻ và khách du lịch quốc tế, các điểm đến cần thêm những cách thức truyền tải sinh động, hấp dẫn và có khả năng tạo tương tác.

Bằng cách sử dụng hệ thống máy chiếu công suất lớn để đưa hình ảnh lên các bề mặt kiến trúc, kết hợp đồ họa chuyển động, âm thanh và ánh sáng, công nghệ này có thể biến một công trình vốn tĩnh lặng thành không gian kể chuyện. Kiến trúc không còn chỉ là phông nền mà trở thành một phần của ngôn ngữ nghệ thuật. Những hình ảnh, biểu tượng và câu chuyện lịch sử được tổ chức thành một dòng chảy thị giác, dẫn dắt người xem qua các lớp thông tin và cảm xúc.

Kiến trúc không còn chỉ là phông nền mà trở thành một phần của ngôn ngữ nghệ thuật. Ảnh: Quỳnh Dương.

Kiến trúc không còn chỉ là phông nền mà trở thành một phần của ngôn ngữ nghệ thuật. Ảnh: Quỳnh Dương.

Tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, ý nghĩa của cách tiếp cận này càng được thể hiện rõ. Đạo học không chỉ là câu chuyện về một nền giáo dục trong quá khứ, mà còn chứa đựng những giá trị có ý nghĩa với xã hội đương đại: tinh thần học tập suốt đời, khát vọng vươn lên bằng tri thức, trách nhiệm của người có học đối với cộng đồng và quan niệm trọng dụng nhân tài. Đây là những nội dung không dễ truyền tải chỉ bằng việc giới thiệu một tấm bia hay một hiện vật. Khi được chuyển hóa thành ngôn ngữ hình ảnh, âm thanh và trình diễn, chúng có thêm cơ hội tiếp cận với những nhóm công chúng vốn ít có thói quen tìm hiểu di sản theo phương thức truyền thống. Người xem không chỉ quan sát mà còn được dẫn dắt vào câu chuyện, từ đó hình thành sự kết nối về nhận thức và cảm xúc với không gian văn hóa.

Quan trọng hơn, công nghệ giúp mở rộng khả năng khai thác giá trị của di sản mà không nhất thiết phải thay đổi bản chất hay cấu trúc của di tích hay các không gian văn hóa. Nếu được nghiên cứu và tổ chức phù hợp, một địa điểm văn hóa có thể phát triển thêm các chương trình trình diễn, trải nghiệm hoạt động giáo dục tương tác và sản phẩm du lịch chuyên đề.

Một cảnh trong màn trình chiếu “Kinh đô Thăng Long” tại Khu di sản Hoàng thành Thăng Long. Ảnh: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Một cảnh trong màn trình chiếu “Kinh đô Thăng Long” tại Khu di sản Hoàng thành Thăng Long. Ảnh: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Như tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, ông Trương Quốc Toàn cho biết, hiện, một trong những ý tưởng đang được nghiên cứu triển khai thời gian tới là không gian trải nghiệm kính vạn hoa, trong đó các hoa văn, họa tiết trên bia Tiến sĩ sẽ được khai thác, trình chiếu bằng hình thức mới lạ, giúp du khách khám phá di sản theo cách trực quan và sinh động hơn.

Đáng chú ý, việc đưa công nghệ trình chiếu vào các địa điểm văn hóa, di tích không đơn thuần là ứng dụng một giải pháp kỹ thuật để tạo hiệu ứng thị giác, mà còn mở ra khả năng hình thành một hệ sinh thái sáng tạo liên ngành. Để tạo nên một sản phẩm trình chiếu hoàn chỉnh, cần có sự phối hợp của nhiều lĩnh vực, bắt đầu từ nghiên cứu lịch sử, văn hóa nhằm xác lập nội dung, lựa chọn câu chuyện và bảo đảm tính chính xác của tư liệu; công tác bảo tồn di sản để việc trình chiếu phù hợp với đặc điểm kiến trúc, cảnh quan và yêu cầu bảo vệ di tích. Trên nền tảng đó, các nghệ sĩ, đạo diễn, nhà biên kịch, nhạc sĩ, họa sĩ và nhà thiết kế đồ họa cùng tham gia chuyển hóa chất liệu lịch sử thành kịch bản nghệ thuật, hình ảnh chuyển động, âm thanh và ngôn ngữ thị giác.

Ở khâu sản xuất, đội ngũ sáng tạo nội dung số, chuyên gia kỹ xảo, lập trình viên và kỹ sư công nghệ đảm nhiệm việc xây dựng hình ảnh 3D, xử lý dữ liệu không gian, thiết kế hiệu ứng và vận hành hệ thống trình chiếu. Các đơn vị tổ chức sự kiện, truyền thông và du lịch tiếp tục tham gia quảng bá, phân phối và đưa sản phẩm đến với công chúng. Như vậy, mỗi chương trình 3D Mapping không chỉ là kết quả của một nhóm làm công nghệ, mà là sản phẩm của quá trình hợp tác giữa giới nghiên cứu, nghệ thuật, kỹ thuật và các ngành dịch vụ sáng tạo.

Khi hoạt động này được triển khai thường xuyên tại nhiều địa điểm văn hóa, nó có thể tạo ra nhu cầu ổn định đối với nhân lực chuyên môn, thúc đẩy sự hình thành các đơn vị sản xuất nội dung số, doanh nghiệp công nghệ trình diễn và mạng lưới hợp tác sáng tạo. Đây chính là nền tảng để phát triển một hệ sinh thái 3D Mapping gắn với di sản, trong đó tài nguyên văn hóa cung cấp chất liệu sáng tạo, công nghệ tạo phương thức thể hiện, còn các ngành công nghiệp văn hóa góp phần đưa sản phẩm vào đời sống và thị trường.

Tuy nhiên, một vấn đề không thể xem nhẹ là bản quyền. Trong môi trường số, một hình ảnh, mô hình 3D hay nội dung tái hiện lịch sử đều có thể được sao chép và khai thác trên nhiều nền tảng. Nếu không có cơ chế xác thực nguồn tư liệu, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và phân định quyền khai thác, những giá trị sáng tạo được hình thành từ di sản sẽ khó tạo ra nguồn thu tương xứng.

Từ “Tinh hoa Đạo học” đến “Kinh đô Thăng Long”, “Ngọc Sơn – Đêm huyền bí”… , mỗi chương trình là một câu chuyện kể khác nhau, nhưng cùng cho thấy tiềm năng của việc kết hợp di sản với công nghệ và sáng tạo. Mỗi di sản và không gian văn hóa có thể trở thành điểm khởi nguồn cho những sản phẩm mang bản sắc riêng. Vì vậy, khi công nghệ được đặt đúng vị trí và nội dung có chiều sâu, những không gian lịch sử không chỉ được gìn giữ như ký ức của quá khứ mà còn có thể tiếp tục hiện diện sống động trong đời sống đương đại, đóng góp vào sự phát triển của công nghiệp văn hóa.

Quỳnh Dương

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/cong-nghe-chap-canh-cho-nhung-san-pham-van-hoa-moi-1764188.html