Công nghệ chiến lược: Đòn bẩy quyết định năng lực cạnh tranh dài hạn

Theo chuyên gia, phát triển công nghệ chiến lược chính là đầu tư cho năng lực cạnh tranh dài hạn. Đây là cơ hội để ngành Công Thương tạo đột phá về tăng trưởng.

Cơ hội chuyển đổi mô hình tăng trưởng

Ngày 18/6, Báo Công Thương tổ chức Tọa đàm với chủ đề: Công nghệ chiến lược - Động lực mới cho tăng trưởng ngành Công Thương.

Tọa đàm: Công nghệ chiến lược - Động lực mới cho tăng trưởng ngành Công Thương. Ảnh: Quốc Chuyển

Tọa đàm: Công nghệ chiến lược - Động lực mới cho tăng trưởng ngành Công Thương. Ảnh: Quốc Chuyển

Tại tọa đàm, TS. Trần Thị Thu Hiền, Phó trưởng Phòng Thông tin và truyền thông, Viện nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương cho biết, điểm khác biệt của công nghệ chiến lược so với các công nghệ thông thường là nó không chỉ tạo ra một sản phẩm mới mà còn làm thay đổi năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế.

"Quốc gia nào làm chủ được công nghệ chiến lược sẽ có lợi thế trong kiểm soát chuỗi cung ứng, nâng cao năng suất lao động, gia tăng giá trị sản xuất và giảm sự phụ thuộc vào bên ngoài" - TS. Trần Thị Thu Hiền nói.

Theo TS. Trần Thị Thu Hiền, trong bối cảnh hiện nay, cạnh tranh giữa các quốc gia không còn chủ yếu dựa vào tài nguyên hay lao động giá rẻ mà chuyển sang cạnh tranh về công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và khả năng tạo ra các ngành công nghiệp mới. Vì vậy, phát triển công nghệ chiến lược chính là đầu tư cho năng lực cạnh tranh dài hạn.

Đối với Việt Nam, đây còn là cơ hội để chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu. Nếu tận dụng tốt các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, năng lượng mới, vật liệu tiên tiến, dữ liệu lớn hay tự động hóa, chúng ta không chỉ nâng cao năng suất mà còn từng bước tham gia vào những khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.

TS. Trần Thị Thu Hiền, Phó trưởng Phòng Thông tin và truyền thông, Viện nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương. Ảnh: Quốc Chuyển

TS. Trần Thị Thu Hiền, Phó trưởng Phòng Thông tin và truyền thông, Viện nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương. Ảnh: Quốc Chuyển

Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhìn nhận là công nghệ chiến lược không phải là mục tiêu tự thân. Giá trị lớn nhất của nó nằm ở khả năng được chuyển hóa thành năng lực sản xuất, năng lực đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh thực tế của doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế.

Đồng quan điểm, TS. Vũ Văn Khoa, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME) bày tỏ, từ góc độ một đơn vị nghiên cứu khoa học và công nghệ, chúng tôi cho rằng phát triển công nghệ chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mục tiêu xây dựng nền công nghiệp tự chủ, hiện đại và có giá trị gia tăng cao của Việt Nam.

"Trước hết, làm chủ các công nghệ chiến lược sẽ giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu, từng bước nâng cao năng lực tự chủ trong thiết kế, chế tạo và vận hành các hệ thống công nghiệp trọng điểm. Đây là yếu tố nền tảng để bảo đảm an ninh kinh tế, nâng cao khả năng chống chịu của nền sản xuất trước những biến động của chuỗi cung ứng toàn cầu" - TS. Vũ Văn Khoa khẳng định.

Bên cạnh đó, công nghệ chiến lược chính là động lực thúc đẩy quá trình chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng dựa trên lao động giá rẻ sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo và năng suất. Thay vì chủ yếu tham gia ở các khâu gia công, lắp ráp có giá trị gia tăng thấp, chúng ta có cơ hội tiến lên các khâu thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống và sở hữu tài sản trí tuệ.

Đối với ngành Công Thương, những lĩnh vực như sản xuất thông minh, robot công nghiệp, năng lượng sạch và vật liệu mới, thiết bị điện gió ngoài khơi, công nghệ đường sắt hiện đại, chế biến sâu khoáng sản, hay các hệ thống thử nghiệm và kiểm chuẩn tiên tiến đều là những công nghệ chiến lược có khả năng tạo ra đột phá về năng suất và giá trị gia tăng.

Đặc biệt, quá trình phát triển công nghệ chiến lược sẽ tạo ra nhu cầu lớn về nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo trong nước kết nối chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học. Đây là điều kiện quan trọng để hình thành năng lực công nghệ quốc gia, tạo ra các sản phẩm, giải pháp và sáng chế mang thương hiệu Việt Nam.

Lực đẩy phát triển công nghệ chiến lược

Theo TS. Vũ Văn Khoa, Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg đã xác định rất đúng những công nghệ có khả năng tạo ra bước nhảy vọt về năng suất, năng lực cạnh tranh và tự chủ công nghệ của đất nước. Đây cũng là những lĩnh vực mà Viện Nghiên cứu Cơ khí đã và đang tập trung đầu tư nghiên cứu trong nhiều năm qua.

TS. Vũ Văn Khoa, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME). Ảnh: Quốc Chuyển

TS. Vũ Văn Khoa, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí (NARIME). Ảnh: Quốc Chuyển

Đơn cử, trong lĩnh vực công nghệ số, robot và tự động hóa, những năm gần đây, NARIME đã tập trung nghiên cứu, phát triển các giải pháp sản xuất thông minh theo định hướng công nghiệp 4.0. Nhiều hệ thống dây chuyền tự động, kho thông minh và giải pháp logistics thông minh do Viện thiết kế, chế tạo đã được đưa vào vận hành thực tế tại doanh nghiệp.

Cũng tại tọa đàm, PGS.TS. Trịnh Trọng Chưởng, Trưởng ban Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, Đại học Công nghiệp Hà Nội (HaUI) chia sẻ, Đại học Công nghiệp Hà Nội đã tập trung nguồn lực để triển khai những ngành/chương trình đào tạo mới để đón bắt và đáp ứng các xu hướng công nghệ chiến lược hiện nay. Hiện nay, HaUI đang đào tạo 72 ngành và chương trình đào tạo, tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao và kinh tế số.

Đặc biệt, Đại học Công nghiệp Hà Nội định hướng triển khai đào tạo và nghiên cứu ở ba lĩnh vực công nghệ kỹ thuật chiến lược gồm: Vi mạch bán dẫn, năng lượng tái tạo và trí tuệ nhân tạo, nhằm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành then chốt của quốc gia và xu thế phát triển toàn cầu trong tương lai.

Trong đó, vi mạch bán dẫn là lĩnh vực công nghệ cốt lõi của kỷ nguyên số, đóng vai trò nền tảng trong việc phát triển trí tuệ nhân tạo, triển khai các hệ thống IoT và xử lý dữ liệu lớn... với yêu cầu về hiệu năng vi mạch ngày càng cao. Vì vậy, đây là ngành có nhu cầu rất lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao, không chỉ tại Việt Nam mà trên phạm vi toàn cầu.

PGS.TS. Trịnh Trọng Chưởng cho rằng, để đáp ứng yêu cầu phát triển các công nghệ chiến lược, việc tăng cường gắn kết giữa nhà trường, viện nghiên cứu là một yêu cầu then chốt. Theo đó, cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau: Xây dựng cơ chế hợp tác thực chất giữa ba bên; đổi mới chương trình đào tạo theo nhu cầu thị trường; phát triển các trung tâm nghiên cứu và đổi mới sáng tạo chung; thúc đẩy cơ chế đặt hàng nghiên cứu và chuyển giao công nghệ; hoàn thiện hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; hoàn thiện cơ chế, chính sách của nhà nước...

PGS.TS. Trịnh Trọng Chưởng, Trưởng ban Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, Đại học Công nghiệp Hà Nội (HaUI). Ảnh: Quốc Chuyển

PGS.TS. Trịnh Trọng Chưởng, Trưởng ban Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, Đại học Công nghiệp Hà Nội (HaUI). Ảnh: Quốc Chuyển

TS. Vũ Văn Khoa chia sẻ, để phát triển các công nghệ chiến lược trong lĩnh vực cơ khí, cần chuyển từ tư duy hỗ trợ từng dự án riêng lẻ sang xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoàn chỉnh, trong đó doanh nghiệp là trung tâm, viện nghiên cứu và trường đại học là lực lượng tạo ra tri thức và công nghệ, còn Nhà nước đóng vai trò kiến tạo và dẫn dắt thị trường.

Một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường các chương trình nghiên cứu theo cơ chế đặt hàng từ doanh nghiệp và từ các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia. Điều này giúp các nhiệm vụ nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của sản xuất và thị trường, đồng thời tạo đầu ra rõ ràng cho các sản phẩm khoa học và công nghệ.

TS. Trần Thị Thu Hiền nhận định, phát triển công nghệ chiến lược cần được tiếp cận như một chính sách phát triển quốc gia mang tính dài hạn, chứ không chỉ là chính sách khoa học và công nghệ.

Trước hết, cần ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực như AI, bán dẫn, robot, năng lượng mới và vật liệu tiên tiến. Đây là yếu tố quyết định khả năng hấp thụ và sáng tạo công nghệ.

Tiếp theo là đổi mới cơ chế tài chính cho nghiên cứu và phát triển theo hướng linh hoạt hơn, chấp nhận rủi ro có kiểm soát, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho R&D thông qua ưu đãi thuế và các quỹ đổi mới sáng tạo.

Ngày 6/5/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 808/QĐ-TTg giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược cho 10 bộ, cơ quan trung ương thực hiện 20 nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phát triển công nghệ chiến lược.Trong đó, Bộ Công Thương được giao 3 nhiệm vụ: Một là, bảo đảm an ninh năng lượng cho tăng trưởng cao; hiện đại hóa hệ thống điện - nhiên liệu xanh, thông minh và tự chủ. Hai là, tự chủ công nghiệp, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và nâng cấp chuỗi giá trị sản xuất xanh, thông minh, giá trị gia tăng cao. Ba là, hiện đại hóa thương mại trong nước và ngoài nước bằng dữ liệu, logistics thông minh và chuỗi cung ứng tin cậy.

Quỳnh Nga

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/cong-nghe-chien-luoc-don-bay-quyet-dinh-nang-luc-canh-tranh-dai-han-461838.html