Công nghiệp chế biến, chế tạo: 'Bệ phóng' cho tăng trưởng hai con số

'Để đạt tăng trưởng hai con số, chúng ta phải dựa vào một nền sản xuất chế tạo hùng mạnh, đủ khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn và thúc đẩy ngành khác cùng phát triển'.

Đây là thông điệp, TS. Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội nhấn mạnh trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Công Thương.

Nội lực công nghiệp Việt Nam đang vươn lên

- Công nghiệp chế biến, chế tạo đang trở thành động lực tăng trưởng của nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao. Năm 2025, chỉ số sản suất ngành chế biến, chế tạo ước tăng 10,5% và là mức tăng cao nhất từ năm 2019 đến nay. Ông nhận định gì về sự tăng trưởng này?

TS. Trần Văn Khải: Năm 2025, chứng kiến sự bứt phá ngoạn mục của công nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam. Mức tăng 10,5% giá trị tăng thêm của ngành, cao nhất trong vòng 5 năm, thực sự là “đầu tàu” kéo kinh tế vĩ mô đi lên.

Thành quả này phản ánh sức bật mạnh mẽ của nền sản xuất trong nước sau giai đoạn khó khăn, khẳng định nỗ lực vượt bậc của Chính phủ và doanh nghiệp. Dưới sự chỉ đạo sát sao, các chính sách tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ chuyển đổi mô hình sản xuất đã phát huy tác dụng, giúp sản xuất công nghiệp khởi sắc dù phải đối mặt gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu và thiên tai.

TS. Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội.

TS. Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội.

Quan trọng hơn, chất lượng tăng trưởng đã cải thiện rõ nét: Khu vực doanh nghiệp nội địa gia tăng đóng góp, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, hiện chiếm gần 50% giá trị sản xuất công nghiệp (so với ~35% năm 2020). Điều này cho thấy nội lực công nghiệp Việt Nam đang vươn lên, giảm dần phụ thuộc khối FDI, tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng bền vững.

Tăng trưởng công nghiệp chế biến, chế tạo ấn tượng cũng góp phần đưa GDP năm 2025 vượt 8%, thuộc nhóm cao nhất châu Á. Đây là minh chứng sinh động cho khả năng chống chịu và thích ứng của kinh tế Việt Nam trước biến động toàn cầu, củng cố niềm tin để chúng ta mạnh dạn bước vào giai đoạn mới với khát vọng tăng trưởng GDP hai con số.

Tóm lại, mức tăng 10,5% của ngành chế biến, chế tạo không chỉ là con số ấn tượng mà còn là minh chứng cho đường lối đúng đắn lấy công nghiệp chế tạo làm trọng tâm phát triển. Đúng như tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW của Đảng, công nghiệp chế biến, chế tạo đã và đang khẳng định vai trò then chốt, là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Đây chính là tiền đề quan trọng để Việt Nam tự tin hướng tới mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

- Nghị quyết 252/2025/QH15 về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đặt ra mục tiêu đến năm 2030, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP. Mục tiêu này có ý nghĩa như thế nào trong bối cảnh Việt Nam phấn đấu tăng trưởng hai con số, thưa ông?

TS. Trần Văn Khải: Việc Quốc hội thông qua điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia đặt mục tiêu đến năm 2030 tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo khoảng 28% GDP có ý nghĩa chiến lược sâu sắc.

Trong bối cảnh Việt Nam phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân trên 8% thập kỷ này, đặc biệt giai đoạn 2026 - 2030 đạt tối thiểu 10%/năm, mục tiêu 28% phản ánh quyết tâm đưa công nghiệp chế tạo trở thành trụ cột của nền kinh tế. Nói cách khác, để đạt tăng trưởng hai con số, chúng ta phải dựa vào một nền sản xuất chế tạo hùng mạnh, đủ khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn và thúc đẩy các ngành khác cùng phát triển.

Trước hết, tỷ trọng xấp xỉ 28% GDP vào năm 2030 đồng nghĩa khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo sẽ đóng vai trò xương sống trong cơ cấu kinh tế, tiến gần hơn tới các nước công nghiệp mới. Năm 2025, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo (là tiêu chí trụ cột đánh giá nước công nghiệp) ước đạt 24,7% GDP (năm 2024, đạt 24,1%).

Doanh nghiệp nội địa đã gia tăng đóng góp vào tăng trưởng của công nghiệp chế biến, chế tạo.

Doanh nghiệp nội địa đã gia tăng đóng góp vào tăng trưởng của công nghiệp chế biến, chế tạo.

Mục tiêu 28% đòi hỏi bước nhảy vọt về cơ cấu, phản ánh kỳ vọng đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030. Đây là mục tiêu nhất quán với định hướng Đại hội XIII, khi Đảng ta xác định phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo để tránh nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Bên cạnh đó, mục tiêu này còn tạo sức ép tích cực buộc chúng ta tập trung nguồn lực cho các ngành chế tạo mũi nhọn, ưu tiên phát triển sản xuất công nghệ cao và nâng cao năng suất. Tỷ trọng 28% GDP cũng hàm ý khu vực công nghiệp, xây dựng sẽ trên 40% GDP, dịch vụ trên 50%, một cơ cấu cân đối, bền vững hơn khi nền kinh tế ít phụ thuộc vào nông nghiệp.

Như vậy, đây không chỉ là con số cơ học mà thể hiện quyết tâm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, lấy công nghiệp chế biến, chế tạo làm động lực đột phá để hiện thực hóa khát vọng phát triển quốc gia.

Nhiều lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh rõ rệt

- Theo ông, đâu là những lĩnh vực chế biến, chế tạo Việt Nam đang có lợi thế rõ nhất cần được ưu tiên phát triển để tạo bứt phá trong giai đoạn tới?

TS. Trần Văn Khải: Trong bức tranh công nghiệp Việt Nam, nhiều lĩnh vực chế biến, chế tạo đang nổi lên với lợi thế cạnh tranh rõ rệt mà chúng ta cần ưu tiên thúc đẩy để tạo đột phá.

Thứ nhất, điện tử và công nghệ cao: Ngành điện tử đã vươn lên thành lĩnh vực xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch khoảng 100 tỷ USD. Từ chỗ gần như chưa có gì năm 2010, nay Việt Nam đã trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu.

Lợi thế về lực lượng lao động trẻ, chi phí cạnh tranh cùng sự hiện diện của các tập đoàn lớn (Samsung, Intel...) tạo đà để ta phát triển mạnh điện tử, hướng tới sản xuất vi mạch bán dẫn và sản phẩm công nghệ cao “Make in Vietnam”. Đây sẽ tiếp tục là mũi nhọn số một cần ưu tiên, vì có hàm lượng tri thức cao và sức lan tỏa lớn.

Thứ hai, sản xuất ô tô và cơ khí chế tạo: Ngành ô tô Việt Nam đang trên đà trỗi dậy mạnh mẽ. Năm 2025, sản lượng ô tô tăng tới 39,1%, mức tăng “bứt tốc” hiếm có. Sự vươn lên của doanh nghiệp Việt như VinFast cùng các liên doanh lắp ráp (Thaco, Hyundai Thành Công…) cho thấy ta có lợi thế dần định hình về thị trường nội địa lẫn tiềm năng xuất khẩu.

Ưu tiên phát triển công nghiệp ô tô - xe điện và ngành cơ khí chế tạo sẽ tạo hiệu ứng kéo theo cho hàng loạt ngành phụ trợ (thép, nhựa, cao su kỹ thuật, điện - điện tử), qua đó hình thành hệ sinh thái công nghiệp toàn diện. Với dân số gần 100 triệu, dư địa thị trường ô tô nội địa rất lớn, giúp Việt Nam tự tin phát triển ngành này thành mũi nhọn kinh tế trong tương lai gần.

Thứ ba, dệt may, da giày và chế biến gỗ: Đây là những ngành công nghiệp nhẹ truyền thống mà Việt Nam có lợi thế nhân công, tay nghề và đã đứng top đầu thế giới về xuất khẩu. Dệt may, da giày hiện chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu chế tạo, nhiều doanh nghiệp đã chủ động tái cơ cấu sản xuất, đa dạng thị trường và sản phẩm để duy trì tăng trưởng hai con số. Lợi thế rõ nhất của ta là lực lượng lao động lành nghề, thị trường quốc tế rộng mở nhờ các FTA thế hệ mới.

Điện tử và dệt may là một trong những lĩnh vực chế biến, chế tạo có lợi thế cạnh tranh rõ rệt.

Điện tử và dệt may là một trong những lĩnh vực chế biến, chế tạo có lợi thế cạnh tranh rõ rệt.

Do đó, cần ưu tiên hiện đại hóa ngành dệt may - da giày (ứng dụng tự động hóa, chuyển sang sản phẩm giá trị cao, thời trang bền vững) để vừa giữ vững thị phần xuất khẩu, vừa nâng tầm thương hiệu Việt. Tương tự, chế biến gỗ và nội thất cũng là lĩnh vực ta có thế mạnh về nguồn nguyên liệu và kỹ thuật, có thể bứt phá nếu tập trung vào thiết kế và xây dựng thương hiệu.

Thứ tư, chế biến nông sản, thực phẩm: Việt Nam là cường quốc nông nghiệp về gạo, cà phê, thủy sản, trái cây nhiệt đới... nhưng lâu nay chủ yếu xuất thô, giá trị gia tăng thấp. Gần đây xu hướng chế biến sâu nông sản đã có nhiều điểm sáng: các mặt hàng chủ lực như gạo, cà phê, rau quả, thủy sản không chỉ tăng mạnh về kim ngạch mà còn chuyển dịch tích cực về chất lượng, giá trị gia tăng.

Điều này cho thấy lợi thế của ta nằm ở nguồn nguyên liệu dồi dào và dư địa lớn để phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm. Ưu tiên lĩnh vực này sẽ giúp nâng cao thu nhập cho nông dân, ổn định đầu ra cho nông nghiệp và xây dựng được thương hiệu thực phẩm Việt Nam trên thị trường quốc tế. Những ngành như chế biến thủy sản, sữa, gia vị, đồ uống… hoàn toàn có thể vươn tầm nếu được đầu tư công nghệ hiện đại và quản trị chất lượng theo chuẩn mực quốc tế.

Thứ năm, vật liệu mới và công nghiệp hóa chất: Ngành công nghiệp vật liệu có vai trò nền tảng cho mọi lĩnh vực sản xuất, từ luyện kim, hóa chất đến vật liệu xây dựng, composite, nano.

Việt Nam sở hữu một số lợi thế đặc biệt, điển hình là tài nguyên đất hiếm đứng vào hàng top thế giới. Trữ lượng đất hiếm của ta ước đạt ~22 triệu tấn, lớn thứ hai toàn cầu chỉ sau Trung Quốc. Đất hiếm cùng các khoáng sản chiến lược khác chính là “vũ khí” để Việt Nam phát triển ngành vật liệu mới (nam châm, pin, bán dẫn…) và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng công nghệ cao.

Bên cạnh đó, với nhu cầu trong nước lớn, ta đã phát triển được một số lĩnh vực vật liệu cơ bản như thép xây dựng, xi măng đáp ứng 100% nhu cầu nội địa. Để tạo đột phá, cần ưu tiên các dự án vật liệu mới có hàm lượng công nghệ cao, thân thiện môi trường - chẳng hạn sản xuất chip bán dẫn, vật liệu nano, hợp kim đặc biệt - qua đó hỗ trợ cho chính ngành điện tử, cơ khí trong nước. Phát triển mạnh công nghiệp vật liệu sẽ tạo nền móng vững chắc để Việt Nam sớm trở thành nước công nghiệp hiện đại.

Xin cảm ơn ông!

TS. Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội: Điện tử, ô tô, dệt may, da giày, chế biến thực phẩm và vật liệu mới là những lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế nổi bật và dư địa tăng trưởng lớn. Tập trung nguồn lực thúc đẩy các ngành này chẳng những giúp ta tạo bứt phá về xuất khẩu và tăng trưởng, mà còn định hình vị thế mới cho Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, hiện thực hóa mục tiêu trở thành trung tâm sản xuất công nghiệp của khu vực.

Quỳnh Nga (thực hiện)

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/cong-nghiep-che-bien-che-tao-be-phong-cho-tang-truong-hai-con-so-443551.html