Công nghiệp chế biến chế tạo và bài toán thoát 'bẫy gia công'
Công nghiệp chế biến chế tạo, động lực tăng trưởng của nền kinh tế, vẫn chưa thoát khỏi bẫy gia công khi giá trị gia tăng giữ lại trong nước còn thấp dù quy mô và năng lực sản xuất đã mở rộng.
Những “gã khổng lồ” đứng ngoài chuỗi giá trị nội địa
Quy mô sản xuất và xuất khẩu của các ngành công nghiệp trọng điểm tăng nhanh trong những năm qua được bồi đắp bởi sự hiện diện ngày càng lớn của các tập đoàn đa quốc gia như Samsung, LG, Toyota, Honda, Canon, cùng với một số doanh nghiệp nội địa quy mô lớn như Thaco, VinFast, Viettel, Hòa Phát, Gemadept….
Các doanh nghiệp này đã và đang góp phần hình thành những tổ hợp sản xuất lớn tại Bắc Ninh, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Đồng Nai, đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng công nghiệp và xuất khẩu.

Một góc trung tâm sản xuất linh kiện khung thân vỏ ô tô tại Chu Lai (Đà Nẵng) của Thaco Industries. Ảnh: Thaco
Tuy nhiên, thực tế cho thấy Việt Nam chưa có doanh nghiệp đứng đầu chuỗi sản xuất tầm khu vực hoặc quốc tế, đủ năng lực dẫn dắt và tạo lan tỏa phát triển ngành.
Trong chuỗi giá trị công nghiệp toàn cầu, Việt Nam chủ yếu tham gia ở các công đoạn lắp ráp, gia công cơ khí chính xác mức thấp và gia công bán thành phẩm, với tỷ lệ nội địa hóa thấp, đặc biệt trong các ngành điện tử, ô tô và cơ khí. Riêng ngành luyện kim, doanh nghiệp trong nước chủ yếu dừng ở khâu sản xuất phôi và thép xây dựng, chưa tham gia các công đoạn vật liệu kỹ thuật cao.
Bà Trương Thị Chí Bình, Tổng thư ký Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI) cho rằng, thời gian qua, dù đã chủ động mở cửa để đón dòng vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực chế biến, chế tạo, nhưng ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam vẫn chưa có nhiều chuyển biến. Phần lớn doanh nghiệp lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ có quy mô nhỏ và vừa nên gặp rất nhiều khó khăn về vốn, thị trường, công nghệ, nguồn nhân lực.
Trong khi đó, đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam (VAMI) nhìn nhận, mặc dù cơ hội thị trường của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí trong nước rất lớn, nhưng doanh nghiệp chưa tận dụng được. Nhiều dự án/gói thầu lớn có liên quan đến máy móc, thiết bị vẫn do nhà thầu nước ngoài cung cấp.
Các nhà máy lắp ráp quy mô lớn cần tới hàng nghìn linh kiện, phụ tùng và dịch vụ kỹ thuật phụ trợ. Song, hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ trong nước chưa đủ năng lực đáp ứng, cả về quy mô lẫn trình độ công nghệ. Hệ quả là phần lớn linh kiện, vật tư đầu vào vẫn phải nhập khẩu, khiến chuỗi giá trị sản xuất tại Việt Nam không thể giữ lại trong nền kinh tế nội địa.
Thống kê giai đoạn 2010–2015, số lượng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tăng theo làn sóng FDI nhưng vẫn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng số doanh nghiệp sản xuất – chế biến.
Đến năm 2015, cả nước có khoảng 2.200 – 2.500 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, tương đương 3,5 – 4% tổng số doanh nghiệp sản xuất công nghiệp. Phần lớn doanh nghiệp trong nhóm này chỉ sản xuất các chi tiết đơn giản, hàm lượng công nghệ thấp và giá trị nhỏ trong cơ cấu giá trị sản phẩm.
Giai đoạn 2016 – 2020, hơn 88% trong số doanh nghiệp CNHT là quy mô nhỏ và vừa. Tới năm 2024, thống kê chưa đầy đủ cho thấy, 88% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong đó, đứng đầu về số lượng là doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong lĩnh vực cơ khí (khoảng 2.680).
Bộ Công thương chỉ rõ các hạn chế mang tính phổ biến của doanh nghiệp nội địa về quy mô, vốn và công nghệ – thiết bị. Theo đó, hơn 95% doanh nghiệp trong nước là doanh nghiệp nhỏ và vừa; vốn bình quân của doanh nghiệp tư nhân chỉ bằng 1,5% doanh nghiệp nhà nước và 19% doanh nghiệp FDI; tài sản cố định bình quân chỉ khoảng 4–7 tỷ đồng, tương đương 1% doanh nghiệp nhà nước và 5% doanh nghiệp FDI.
Nhiều doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ vẫn sử dụng máy móc từ thập niên 1990–2000, năng suất thấp và hầu như không có hoạt động nghiên cứu – phát triển, do đó không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật cao của các doanh nghiệp FDI về độ chính xác cơ khí và tiêu chuẩn chất lượng linh kiện.
Nghịch lý nhập khẩu – xuất khẩu và giá trị giữ lại cho nền kinh tế
Một trong những vấn đề nổi cộm được Bộ Công thương chỉ ra là nghịch lý giữa tăng trưởng xuất khẩu và mức độ phụ thuộc nhập khẩu.
Đến năm 2024, giá trị nhập khẩu linh kiện, phụ tùng của Việt Nam đạt 115 tỷ USD, chiếm khoảng 44% tổng kim ngạch nhập khẩu. Trong đó, linh kiện phục vụ ngành điện tử chiếm 60–65%, cơ khí chế tạo 35–40%, ô tô 45–50%.

Nguồn: UNIDO năm 2025
Theo Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO), tỷ trọng nhập khẩu sản phẩm trung gian trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam tăng từ 65% năm 2016 lên 71% năm 2024, phản ánh mức độ phụ thuộc ngày càng lớn của nền sản xuất vào nguyên liệu và linh kiện đầu vào từ bên ngoài.
Điều này cho thấy, dù xuất khẩu công nghiệp tăng nhanh, giá trị gia tăng thực sự giữ lại trong nước vẫn ở mức thấp, bởi phần lớn giá trị của sản phẩm cuối cùng nằm ở các khâu thiết kế, vật liệu, linh kiện cốt lõi và công nghệ – những khâu mà doanh nghiệp trong nước chưa làm chủ.
Ở mảng cơ khí chế tạo – lĩnh vực gắn chặt với luyện kim và các ngành công nghiệp nền tảng – doanh nghiệp nội địa vẫn chủ yếu hoạt động ở khâu gia công, lắp ráp với trình độ công nghệ thấp và năng lực cạnh tranh hạn chế. Đặc biệt, doanh nghiệp trong nước nhìn chung chưa đủ năng lực tham gia cung cấp thiết bị, máy móc cho các dự án công nghiệp quy mô lớn.
Thực tế cho thấy, tại dự án đường dây 500kV mạch 3 Bắc - Nam, doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu đảm nhận các hạng mục cột thép, cáp dẫn, trong khi các thiết bị công nghệ lõi như máy biến áp, máy cắt, sứ cách điện vẫn phải nhập khẩu. Điều này phản ánh rõ giới hạn tham gia của doanh nghiệp nội địa trong các công đoạn có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao.
Dù một số trường hợp tích cực như Viện Nghiên cứu cơ khí (NARIME) đã từng bước làm chủ thiết kế, chế tạo một số hệ thống, thiết bị phụ trợ cho các nhà máy nhiệt điện, với tỷ lệ nội địa hóa tại dự án Nhiệt điện Sông Hậu 1 đạt trên 50%, Bộ Công thương lưu ý tổng thể doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa làm chủ được các dự án thiết bị toàn bộ; phần lớn công trình công nghiệp lớn tiếp tục phụ thuộc vào tổng thầu EPC nước ngoài.
Ở cấp độ rộng hơn, dù khoảng 30% doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đã tham gia chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu ở các mức độ khác nhau, và một số doanh nghiệp bước đầu làm chủ một số chủng loại công nghệ trong các lĩnh vực như thiết bị thủy điện, máy biến áp, cơ khí nông nghiệp, nhưng các kết quả này chưa đủ để tạo ra sự dịch chuyển căn bản trong cấu trúc ngành.
Theo đánh giá của Bộ Công thương, doanh nghiệp cơ khí chế tạo nội địa hiện chủ yếu có quy mô nhỏ, tập trung vào gia công và lắp ráp, công nghệ thấp, năng lực cạnh tranh yếu và chưa làm chủ được các công đoạn giá trị gia tăng cao. Sản phẩm cơ khí sản xuất trong nước chỉ chiếm khoảng 7% thị trường và phần lớn mang thương hiệu nước ngoài.
Từ góc nhìn cấu trúc, việc doanh nghiệp nội địa “kẹt” ở khâu gia công trong các ngành cơ khí chế tạo không phải là vấn đề riêng lẻ, mà là hệ quả của mô hình phát triển phụ thuộc FDI, công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm, hạn chế về vốn và công nghệ, cùng với nghịch lý nhập khẩu linh kiện tăng nhanh hơn giá trị gia tăng giữ lại trong nước. Đây chính là “bẫy gia công” mà ngành công nghiệp chế biến chế tạo Việt Nam đang đối mặt.
Mức độ liên kết ngược (nhập khẩu hàng hóa trung gian từ nước ngoài làm đầu vào cho sản xuất trong nước để xuất khẩu) trong giai đoạn 2016-2024 vừa qua ngày càng tăng, từ gần 43% lên khoảng 51%, trong khi đó, mức độ liên kết xuôi (hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam được sử dụng để sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh phục vụ xuất khẩu) giảm từ khoảng 12% xuống 11%.
Dữ liệu này cho thấy thành tích xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là nhờ đầu vào nhập khẩu chứ không phải dựa vào chuỗi giá trị trong nước, do vậy, giá trị gia tăng trong nước có trong xuất khẩu rất hạn chế, theo UNIDO.











