Công nghiệp quốc phòng: Từ bước phát triển mạnh mẽ đến tư duy đột phá mới
Những năm qua, công nghiệp quốc phòng (CNQP) Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ, từng bước làm chủ nhiều công nghệ nền, công nghệ lõi, nghiên cứu, chế tạo thành công nhiều loại vũ khí, trang bị hiện đại, đáp ứng ngày càng tốt yêu cầu xây dựng Quân đội hiện đại và từng bước tham gia xuất khẩu.
Đây là tiền đề quan trọng để tiếp tục đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống, nhất là trước yêu cầu của chiến tranh công nghệ cao.
Chủ trương đúng, hành động quyết liệt, thành quả nổi bật
Để tạo nền tảng vững chắc cho quá trình xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng hiện đại, tự chủ và hội nhập, việc hoàn thiện hệ thống chủ trương, đường lối và hành lang pháp lý được xác định là khâu then chốt, đi trước một bước.
Theo đó, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công nghiệp quốc phòng tiếp tục được hoàn thiện đồng bộ, nhất là sau khi Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp được ban hành. Đặc biệt, triển khai quyết liệt Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 3488-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về đột phá phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, các cơ quan, đơn vị CNQP đã đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới, trí tuệ nhân tạo vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đến nay, ngành CNQP đã từng bước làm chủ nhiều công nghệ nền, công nghệ lõi, nghiên cứu, chế tạo thành công nhiều chủng loại vũ khí, trang bị hiện đại mang thương hiệu Việt Nam. Đặc biệt, một số sản phẩm có tính năng kỹ thuật, chiến thuật tương đương, thậm chí vượt trội so với sản phẩm cùng loại của nước ngoài. CNQP hiện cơ bản bảo đảm tốt nhu cầu trang bị của lực lượng vũ trang; có đủ năng lực đóng mới, sửa chữa tàu quân sự hiện đại; sửa chữa lớn, kéo dài niên hạn sử dụng máy bay chiến đấu; nghiên cứu, chế tạo thuốc phóng, thuốc nổ mạnh - lĩnh vực công nghệ mà chỉ rất ít quốc gia trên thế giới làm chủ.

Từ trái qua: Xe bảo trì tên lửa, xe chở tên lửa, đài radar dẫn bắn, xe chỉ huy của tổ hợp và bệ phóng tự hành, của tổ hợp Trường Sơn. Ảnh: SƠN THÀNH
Các sản phẩm vũ khí, trang bị kỹ thuật do Việt Nam nghiên cứu, chế tạo ngày càng đa dạng, đồng bộ và thể hiện rõ tính kế thừa, phát triển liền mạch, khả năng tích hợp cao. Tiêu biểu là các mẫu súng bộ binh STV (súng tiểu liên Việt Nam) và SPL (súng phóng lựu), trong đó súng phóng lựu SPL 40 có thể gắn kẹp nòng bên dưới các loại súng tiểu liên STV, bảo đảm linh hoạt, phù hợp với nhiều nhiệm vụ tác chiến khác nhau.
Không chỉ dừng lại ở vũ khí bộ binh, Việt Nam còn làm chủ và phát triển nhiều loại trang bị, phương tiện kỹ thuật hiện đại như thiết bị bay không người lái (UAV), trang phục chống đạn, hệ thống tác chiến điện tử, radar cảnh giới biển, tên lửa và phương tiện cơ giới. Trong lĩnh vực UAV, đã hình thành hệ sinh thái sản phẩm khá hoàn chỉnh, gồm UAV trinh sát hạng nhẹ tầm trung VU-R70, UAV trinh sát hạng nhẹ tầm ngắn VU-R50, UAV cảm tử (đạn tuần kích) VU-C2. UAV RAV-80 có khả năng cất, hạ cánh thẳng đứng, phù hợp với các nhiệm vụ trinh sát, hỗ trợ chiến đấu, giám sát hạ tầng và tìm kiếm cứu nạn. UAV M400-CT2 được thiết kế làm mục tiêu bay phục vụ huấn luyện và thử nghiệm vũ khí phòng không tầm trung, tầm gần.
Ở cấp độ tổ hợp, nhiều sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao đã được nghiên cứu, chế tạo thành công như tổ hợp tên lửa phòng không S-125-VT, hệ thống tên lửa bờ Trường Sơn với tên lửa hành trình diệt hạm Sông Hồng, xe chiến đấu bộ binh XCB-01... Những kết quả này khẳng định bước tiến vững chắc của CNQP Việt Nam trong việc xây dựng các hệ thống vũ khí đồng bộ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu tác chiến ngày càng cao và từng bước tiệm cận trình độ khu vực, quốc tế.
Phát biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương chỉ rõ: Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo toàn quân thực hiện tốt Nghị quyết số 08 ngày 26-1-2022 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát triển CNQP đến năm 2030 và những năm tiếp theo, với nhiều kết quả và thành công đột phá; đặc biệt là chúng ta đã làm chủ được một số công nghệ nền, công nghệ lõi, nghiên cứu, chế tạo thành công nhiều chủng loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại. Đó là các tổ hợp tên lửa, xe chiến đấu bộ binh, xe thiết giáp chở quân, pháo tự hành, pháo tàu, thiết bị bay không người lái (UAV) và nhiều vũ khí, trang bị, phương tiện hiện đại khác. Đây là tiền đề rất quan trọng để chúng ta tiến nhanh hơn, mạnh hơn trong lộ trình hiện đại hóa Quân đội. Đây là điểm nổi bật đặc biệt xuất sắc của Quân đội trong nhiệm kỳ vừa qua. Đây là minh chứng cho chân lý: Khi chủ trương đúng đắn và hành động quyết liệt thì ắt sẽ có thành quả tốt đẹp.
Tư duy mới, quyết tâm chính trị cao tạo đột phá phát triển
Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV khẳng định đẩy mạnh đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc trước mọi tình huống, nhất là chiến tranh công nghệ cao.
Theo đó, để tạo bước nhảy vọt đột phá về phát triển công nghiệp quốc phòng, cần có tư duy "đột phá phát triển" thay vì chỉ "phát triển" hoặc "xây dựng". Cùng với việc tiếp tục khẳng định tính "lưỡng dụng, hiện đại", đề cao "tự chủ, tự lực, tự cường" trong phát triển CNQP, Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp cũng xác định yếu tố "Tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, chủ động hội nhập quốc tế”, trong đó nội lực là yếu tố quyết định. Chỉ có phát huy nội lực, tự lực mới bảo đảm tiến tới tự chủ chiến lược trong quá trình nghiên cứu, sản xuất và phát triển.
Đồng thời, đẩy mạnh đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị. Khai thác tối đa tính lưỡng dụng của sản phẩm, giảm chi phí và nâng cao giá trị sử dụng, chất lượng sản phẩm với hàm lượng khoa học, công nghệ cao đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc trước mọi tình huống, sẵn sàng ứng phó thắng lợi với các hình thái chiến tranh hiện đại, nhất là chiến tranh công nghệ cao.
Để thực hiện tự lực, tự cường, cần tiếp tục tập trung nâng cao chất lượng tham mưu chiến lược; chủ động dự báo xu hướng phát triển khoa học quân sự thế giới. Hiện nay, việc làm chủ các công nghệ nền, công nghệ lõi, phát triển công nghiệp chip bán dẫn, vật liệu tiên tiến, vật liệu đặc chủng phục vụ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo vũ khí hiện đại có ý nghĩa chiến lược.
Phát triển các doanh nghiệp CNQP mạnh, đủ năng lực cạnh tranh quốc tế, qua đó mở rộng thị trường, thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm CNQP là hướng đi cần thiết, phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế sâu rộng, góp phần nâng cao năng lực tự chủ, gia tăng giá trị sản phẩm “Made in Vietnam” và khẳng định vị thế của Việt Nam trên bản đồ CNQP thế giới. Việc một số doanh CNQP Việt Nam từng bước thâm nhập và đứng vững trên thị trường quốc tế đã cho thấy hiệu quả rõ nét của hướng đi đúng đắn này. Tiêu biểu là Tổng công ty Công nghiệp công nghệ cao Viettel (Viettel High Tech) đã chính thức được Lục quân và Bộ Quốc phòng Malaysia trao văn bản chứng nhận, xác nhận các sản phẩm thông tin quân sự của Viettel đáp ứng những tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe theo chuẩn NATO, đủ điều kiện cung cấp cho Lục quân Malaysia.
Cùng với đó, Công ty Cao su 75 đã đẩy mạnh xuất khẩu nhiều sản phẩm sang các thị trường khó tính như Hoa Kỳ, Pháp, Đan Mạch, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, với giá trị xuất khẩu hằng năm khoảng 2 triệu USD; đồng thời mở rộng xuất khẩu băng tải tôn sang khu vực Đông Nam Á, khuôn chế tạo đá xây dựng sang châu Âu và châu Mỹ, băng tải cao su sang Ấn Độ và Australia.
Bên cạnh đó, tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách; khơi thông các nguồn lực tài chính; có cơ chế ưu đãi, thu hút nhân tài và chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, là những giải pháp then chốt thúc đẩy phát triển công nghiệp quốc phòng. Với quan điểm “người trước, súng sau”, Quân đội phát huy vai trò tiên phong, dẫn dắt trong phát triển công nghệ mới, nghiên cứu, chế tạo trang bị, vũ khí phục vụ bảo vệ Tổ quốc, đồng thời huy động sự tham gia của các thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân, nhất là trong phát triển các công nghệ nền, công nghệ lõi.













