Công Thương Việt Nam trong bức tranh toàn cầu đầu năm 2026: Bài 3: Hai dòng chảy ngược chiều
770,4 tỷ USD là tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá 8 tháng năm 2026 cộng từ hai chiều; xuất khẩu đạt 374,0 tỷ USD, tăng 22,2%, nhưng nhập khẩu tăng nhanh hơn, tới 35,7%. Điểm mới của mốc 8 tháng là nhập siêu phát sinh riêng trong tháng chỉ còn 2,12 tỷ USD, mức thấp nhất kể từ tháng 4. Khi máy móc và linh kiện nhập về hôm nay được kỳ vọng thành hàng xuất khẩu ngày mai, cán cân thương mại đang nói điều gì về sức tự chủ của nền sản xuất trong nước?

Ngành Công Thương 8 tháng đầu năm 2026, trong một năm mà tăng trưởng toàn cầu được dự báo chỉ 3,0%, khối lượng thương mại thế giới tăng 3,5% và giá năng lượng cao hơn khoảng 25% so với trước chiến sự (Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Cập nhật Triển vọng Kinh tế Thế giới tháng 7/2026).


Bức tranh xuất nhập khẩu 8 tháng năm 2026 có hai mặt cùng lúc. Mặt thứ nhất là tốc độ: Tính đến ngày 25/8/2026, kim ngạch xuất khẩu 8 tháng ước đạt 374,0 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ, vượt kế hoạch 6,5 điểm và vượt xa mục tiêu cả năm 15 tới 16%; riêng tháng 8 xuất khẩu đạt 54,23 tỷ USD, tăng 2,1% so với tháng 7 và tăng 24,7% so với cùng kỳ. Cộng cả hai chiều, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 770,4 tỷ USD. Nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 86,8% kim ngạch xuất khẩu với 324,5 tỷ USD, tăng 24,4%; riêng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện lần đầu vượt mốc 100 tỷ USD sau 8 tháng, đạt khoảng 100,5 tỷ USD và tăng 50,2% (cùng báo cáo).
Mặt thứ hai là hướng của cán cân. Nhập khẩu 8 tháng đạt 396,4 tỷ USD, tăng 35,7%, nhanh hơn xuất khẩu 13,5 điểm phần trăm, trong khi khoảng cách này ở mốc 7 tháng là 12,6 điểm và ở mốc 5 tháng là 11,6 điểm. Kết quả là cán cân thương mại hàng hoá 8 tháng nhập siêu 22,4 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm 2025 còn xuất siêu. Đặt cạnh cả năm 2025 xuất siêu 20,03 tỷ USD, con số này cho thấy chỉ trong 8 tháng, chiều của cán cân đã đổi với biên độ vượt cả thặng dư của trọn năm trước.

Trước khi "khen" hay "lo" về con số 770,4 tỷ USD, cần biết chiếc bánh chung năm nay to ra bao nhiêu và to ra vì lý do gì.
Theo bản Global Trade Update tháng 7 và 8 năm 2026 của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển, thương mại hàng hoá toàn cầu 6 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 13,7 nghìn tỷ USD, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2025. Thương mại dịch vụ tăng 10,5%. Cộng lại, hàng hoá và dịch vụ bồi thêm khoảng 2 nghìn tỷ USD cho thương mại thế giới.
Nhưng chính báo cáo ấy nói rõ: Phần lớn mức tăng phản ánh giá cao hơn chứ không phải khối lượng lớn hơn. Gián đoạn vận tải qua eo biển Hormuz cộng lo ngại nguồn cung năng lượng đã đẩy chi phí năng lượng, vận tải, logistics và sản xuất lên. Giá hàng hoá thương mại tăng khoảng 3,6% trong quý I và ước tăng khoảng 5% trong quý II.

Nguồn: UNCTAD, Global Trade Update tháng 7 và 8 năm 2026, công bố ngày 22/7/2026.
Bảng này đặt con số của Việt Nam vào đúng chỗ. Nhóm hàng thế giới đang tăng mạnh nhất là bán dẫn, hàng công nghệ thông tin và pin, đúng những nhóm mà IMF viện dẫn khi nâng dự báo tăng trưởng của Việt Nam. Nhóm thế giới đang co lại là hoá chất, sắt thép, một phần thiết bị năng lượng tái tạo. Đó là bản đồ để đọc cả phần xuất khẩu lẫn phần nhập khẩu 135,80 tỷ USD linh kiện điện tử ở mục sau.
Câu hỏi buộc phải trả lời bằng số liệu của chính mình: mức tăng xuất khẩu của Việt Nam đến từ khối lượng hay từ giá. Thế giới tăng 12,5% chủ yếu nhờ giá. Nếu phần tăng của Việt Nam cũng chủ yếu nhờ giá thì con số tuyệt đối đẹp nhưng nền tảng mỏng hơn vẻ ngoài. Số liệu công bố hiện nay chưa tách được hai phần này. Đó là một khoảng trống thống kê cần được lấp đầy.

Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 giao ngành Công Thương chỉ tiêu tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu năm 2026 khoảng 15 tới 16%. Về cán cân, Nghị quyết không giao một con số mà đặt định hướng bằng lời văn: phấn đấu thặng dư thương mại bền vững.
Đối chiếu thì hai vế đi hai hướng. Xuất khẩu 8 tháng tăng 22,2%, tức đang chạy trên dải chỉ tiêu giao; cần nhắc đây là nhịp 8 tháng đặt cạnh chỉ tiêu cả năm, hai kỳ khác độ dài nên chưa suy ra kết quả năm. Còn cán cân thì đã nhập siêu 22,4 tỷ USD, ngược với định hướng thặng dư. Quý IV thường là quý xuất siêu mạnh nhất nên chưa thể chốt cho cả năm, song đây là chỗ có rủi ro lệch định hướng lớn nhất trong toàn bộ bảng chỉ tiêu của ngành. Kết luận 18-KL/TW ngày 02/4/2026 của Hội nghị Trung ương 2 khoá XIV cũng đặt yêu cầu song song: mở rộng và đa dạng hoá thị trường xuất khẩu, đồng thời ưu tiên sản phẩm có giá trị gia tăng cao.


Nhập siêu cộng dồn nới rộng qua từng mốc báo cáo năm 2026
Cộng dồn từng báo cáo tháng của Cục Thống kê cho thấy nhập siêu không xuất hiện đột ngột mà nới rộng đều đặn: tháng 1 nhập siêu 1,78 tỷ USD; hai tháng 2,98 tỷ USD (cùng kỳ 2025 xuất siêu 1,77 tỷ USD); quý I 3,64 tỷ USD (cùng kỳ xuất siêu 3,57 tỷ USD); bốn tháng 7,11 tỷ USD; năm tháng 13,8 tỷ USD; sáu tháng 16,65 tỷ USD (cùng kỳ xuất siêu 7,95 tỷ USD) bảy tháng 20,52 tỷ USD (Cục Thống kê, các báo cáo tháng 1 tới tháng 7/2026) và tám tháng 22,4 tỷ USD. Quy mô hai chiều ở mốc giữa năm đã rất lớn: sáu tháng xuất khẩu 266,52 tỷ USD, nhập khẩu 283,17 tỷ USD (Viện Chiến lược Chính sách Công Thương, báo cáo tháng 6/2026).
Theo từng tháng, nhập siêu sâu nhất rơi vào tháng 5 với 5,21 tỷ USD; tháng 6 thu hẹp còn 2,64 tỷ USD rồi tháng 7 giãn ra 3,59 tỷ USD (Cục Thống kê, các báo cáo tháng). Biểu V01 và V02 của Cục Thống kê ghi tháng 7 xuất khẩu 53,10 tỷ USD và nhập khẩu 56,67 tỷ USD, đều là mức cao nhất từ đầu năm.

Nhập siêu phát sinh riêng từng tháng năm 2026 (tỷ USD)
Đến tháng 8, chuỗi ấy lần đầu đổi nhịp. Nhập siêu phát sinh trong tháng chỉ còn 2,12 tỷ USD, mức thấp nhất kể từ tháng 4, khi xuất khẩu tăng 2,1% so với tháng trước còn nhập khẩu giảm 0,6%. Đây là tín hiệu đáng chú ý nhất của mốc 8 tháng: tốc độ tăng luỹ kế của nhập khẩu vẫn bị đẩy lên bởi nền so sánh thấp của cùng kỳ năm trước, nhưng xét theo diễn biến tháng, nhập khẩu đã tạm chững lại sau mức cao của tháng 7. Xuất khẩu vẫn leo dốc, còn nhập khẩu lần đầu trong năm không leo nhanh hơn.


Nhập khẩu 7 tháng năm 2026: Linh kiện điện tử bỏ xa mọi nhóm hàng khác
Đâu là thứ đang được nhập về? Biểu V02 của Cục Thống kê cho biết 7 tháng năm 2026, nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện nhập khẩu 135,80 tỷ USD, tương đương 39,9% tổng kim ngạch nhập khẩu (tính toán của toà soạn); nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng 41,07 tỷ USD; vải các loại 8,95 tỷ USD; kim loại thường khác 8,63 tỷ USD; chất dẻo nguyên liệu 7,98 tỷ USD; xăng dầu các loại 6,94 tỷ USD; sắt thép 6,68 tỷ USD; than đá 5,63 tỷ USD. Ở chiều ngược lại, biểu V01 ghi xuất khẩu máy vi tính, điện tử, linh kiện đạt 85,17 tỷ USD, nghĩa là riêng nhóm này nhập siêu 50,63 tỷ USD (tính toán của toà soạn từ V01 và V02); trong khi điện thoại và linh kiện xuất siêu 32,67 tỷ USD (xuất 38,50 tỷ USD, nhập 5,83 tỷ USD) và máy móc thiết bị gần cân bằng (xuất 40,15 tỷ USD, nhập 41,07 tỷ USD).
Bộ Công Thương đã hai lần lý giải hiện tượng này tại họp báo thường kỳ. Tại họp báo quý I ngày 15/4/2026, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, cho rằng phần nhập siêu quý I “mang tính đầu tư nhiều hơn là mất cân đối”, vì linh kiện điện tử tăng khoảng 50%, máy móc thiết bị phụ tùng tăng khoảng 22%, đều là đầu vào phục vụ trực tiếp cho sản xuất khi các dự án FDI bước vào giai đoạn triển.
Tại họp báo quý II ngày 9/7/2026, ông Hải cập nhật: 6 tháng nhập khẩu nhóm điện tử, máy vi tính, linh kiện khoảng 110 tỷ USD, tăng 62%; máy móc thiết bị khoảng 34,6 tỷ USD, tăng 22,9%; hai nhóm gộp lại chiếm khoảng 51% tổng nhập khẩu; xăng dầu nhập 5,87 tỷ USD, tăng 73% về trị giá nhưng lượng chỉ tăng khoảng 11%. Cục Thống kê xác nhận nhóm tư liệu sản xuất chiếm 94,1% nhập khẩu 7 tháng với 319,95 tỷ USD (báo cáo 7 tháng). Báo cáo của Bộ Công Thương tại Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu tháng 6/2026 ước nhập khẩu phục vụ sản xuất khoảng 87,8% tổng nhập khẩu 5 tháng.
Cách lý giải này có cơ sở dữ liệu, nhưng chính Cục Xuất nhập khẩu đã nói vế còn lại ngay từ tháng 4: lượng nhập khẩu lớn cần được “chuyển hoá” thành sản phẩm xuất khẩu, khả năng tăng tốc của doanh nghiệp sẽ quyết định việc đưa cán cân trở lại tích cực.

Bức tranh mặt hàng ở trên còn một tầng nữa. Chính tầng này quyết định cách đọc toàn bộ khoản nhập siêu. Cục Thống kê phân nhóm hàng nhập khẩu theo mục đích sử dụng, không chỉ theo chủng loại. Theo cách phân ấy, bảy tháng năm 2026 nhóm tư liệu sản xuất đạt 319,95 tỷ USD, chiếm 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu. Phần còn lại, chưa tới sáu phần trăm, mới là hàng tiêu dùng.
Con số đó đổi hẳn tính chất của khoản nhập siêu 22,4 tỷ USD. Một nền kinh tế nhập siêu vì dân chi tiêu vào hàng ngoại là một chuyện; nhập siêu vì doanh nghiệp mua máy móc, linh kiện và nguyên liệu để chạy các đơn hàng phía trước là chuyện khác hẳn. Số liệu tám tháng nghiêng hẳn về vế thứ hai: nhóm hàng cần nhập khẩu phục vụ sản xuất đạt 358,1 tỷ USD, chiếm 90,3% tổng kim ngạch nhập khẩu và tăng 37,1%, tức tăng nhanh hơn cả mức chung 35,7%. Điều đó lại khớp với dòng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký tăng 58% cùng kỳ: mua thiết bị hôm nay là để có hàng xuất vào năm sau.
Nhưng đọc như vậy chưa đủ, nhập tư liệu sản xuất ở tỷ trọng 94,1% năm này qua năm khác cũng có nghĩa là phần lớn đầu vào của sản xuất trong nước vẫn phải mua từ bên ngoài. Nhập siêu kiểu ấy không nguy hiểm về mặt cán cân ngắn hạn, nhưng nó là thước đo trực tiếp của mức độ chưa tự chủ. Đó cũng chính là bài toán tự chủ công nghiệp và nội địa hoá mà ngành Công Thương đang trăn trở tìm lời giải.

Cần biết hàng Việt Nam xuất đi thuộc loại nào và vốn ngoại đóng vai trò ra sao. Cơ sở dữ liệu Chỉ số Phát triển Thế giới cho hai con số đáng chú ý.

Nguồn: Ngân hàng Thế giới, Chỉ số Phát triển Thế giới, mã chỉ tiêu TX.VAL.TECH.MF.ZS và BX.KLT.DINV.WD.GD.ZS, truy xuất ngày 27/8/2026. Năm gần nhất có công bố của mỗi nền kinh tế khác nhau nên đã ghi rõ trong bảng, không được đọc như số cùng năm.
Con số thứ nhất giải thích vì sao Quỹ Tiền tệ Quốc tế viện dẫn xuất khẩu công nghệ khi nâng dự báo tăng trưởng của Việt Nam: gần một nửa hàng chế tạo xuất đi thuộc nhóm công nghệ cao, tỷ lệ này cao hơn mức trung bình thế giới, cao hơn cả Trung Quốc lẫn Hàn Quốc.
Con số thứ hai cho thấy mức độ nền kinh tế dựa vào vốn ngoại. Tỷ lệ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện trên GDP của Việt Nam cao nhất nhóm và gấp hơn ba lần mức trung bình thế giới. Đây vừa là lợi thế vừa là chỗ dễ tổn thương. Nó khớp trực tiếp với con số ở mục dưới: doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm 19,8% kim ngạch xuất khẩu.
Đọc hai chỉ số cùng nhau thì bức tranh rõ dần. Hàng xuất khẩu của Việt Nam có hàm lượng công nghệ cao, nhưng phần công nghệ ấy phần lớn đi cùng vốn ngoại.
Con số 44,26% ở bảng trên có một mốc để đo. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đặt chỉ tiêu đến năm 2030: “tỉ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trên tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu đạt tối thiểu 50%”, cùng với đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng “ở mức trên 55%” và quy mô kinh tế số “đạt tối thiểu 30% GDP”.
Đặt cạnh nhau thì khoảng cách còn khoảng 6 điểm phần trăm, nghe không xa. Nhưng chỉ tiêu ấy chỉ có ý nghĩa khi đọc kèm một con số khác của chính bài này: tỷ trọng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước lùi về 19,8%. Hàng công nghệ cao xuất đi từ lãnh thổ Việt Nam là một chuyện, phần công nghệ cao do doanh nghiệp Việt Nam làm chủ lại là chuyện khác. Bộ chỉ tiêu ngành muốn theo dõi Nghị quyết 57 một cách trung thực thì phải tách được hai vế ấy.

Nhập khẩu 135,80 tỷ USD linh kiện điện tử để làm ra hàng xuất khẩu có phải là điều bất thường không? Về mặt lý thuyết thì không. Đó là một trong những nguyên lý lâu đời nhất của kinh tế học.
Năm 1817, trong cuốn On the Principles of Political Economy and Taxation, David Ricardo dựng ví dụ nay đã thành kinh điển. Nước Anh sản xuất vải cần lao động của 100 người trong một năm, nhưng làm rượu vang thì cần tới 120 người. Bồ Đào Nha làm rượu vang chỉ cần 80 người và làm vải cần 90 người, tức là giỏi hơn Anh ở cả hai mặt hàng. Vậy mà Bồ Đào Nha vẫn có lợi khi nhập vải của Anh và dồn vốn vào làm rượu vang, vì đổi rượu lấy vải thì được nhiều vải hơn là tự dệt. Kết luận của Ricardo: “Nước Anh sẽ đem sản phẩm do lao động của 100 người tạo ra để đổi lấy sản phẩm do lao động của 80 người tạo ra.”
Nguyên lý ấy giải thích vì sao một nền kinh tế nhập đầu vào rồi xuất thành phẩm không hề mâu thuẫn. Nó cũng khớp với thực tế đã nêu ở trên: nhóm tư liệu sản xuất chiếm 94,1% kim ngạch nhập khẩu, tức phần lớn hàng nhập về là để làm ra hàng khác chứ không phải để tiêu dùng.
Nhưng lý thuyết ấy có một chỗ không trả lời được. Ricardo tính bằng lao động của cả một quốc gia, mặc định phần giá trị tạo ra sẽ ở lại trong nước ấy. Mô hình gia công lắp ráp toàn cầu hôm nay không mặc định như vậy. Khi doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm 19,8% kim ngạch xuất khẩu và nhập siêu 31,6 tỷ USD, thì phần lao động bỏ ra nằm ở Việt Nam còn hạn chế.
Nói gọn: lợi thế so sánh giải thích được vì sao dòng hàng chảy theo hướng ấy, nhưng không tự động bảo đảm rằng nước đứng ở khâu lắp ráp sẽ giàu lên tương ứng với quy mô kim ngạch. Đó cũng là lý do mục tiếp theo phải nhìn riêng khu vực doanh nghiệp trong nước.
Trước cả Ricardo một bậc về chiều sâu phân tích giá trị, C. Mác trong bộ Tư bản, Quyển I, đặt câu hỏi khác hẳn: cái gì quyết định lượng giá trị của một hàng hoá. Câu trả lời của ông là “thời gian lao động xã hội cần thiết” để sản xuất ra hàng hoá ấy. Mác cũng nêu một cảnh báo còn nguyên giá trị với mô hình gia công: ngay cả khi từng mảnh hàng trên thị trường chỉ chứa đúng lượng thời gian lao động cần thiết, thì tổng số hàng đưa ra thị trường vẫn có thể chứa một phần lao động đã chi phí thừa, nếu thị trường không tiêu thụ hết (C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, Tập 23).
Đặt vào bài toán 374,0 tỷ USD xuất khẩu 8 tháng, câu hỏi của Mác dẫn thẳng tới chỗ mà cách đo theo giá trị gia tăng đang chỉ ra: phần lao động của Việt Nam kết tinh trong khối hàng ấy là bao nhiêu, chứ không phải khối hàng ấy lớn tới đâu.

Chỗ mà mô hình của Ricardo bỏ ngỏ đã được kinh tế học hiện đại lấp bằng một cách đo khác. Trong nghiên cứu đăng trên VoxEU của Trung tâm Nghiên cứu Chính sách Kinh tế ngày 17/1/2024, Giáo sư Richard Baldwin của Trường Kinh doanh IMD dùng cơ sở dữ liệu Thương mại theo Giá trị Gia tăng của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế để mô tả một thực tế: “Trung Quốc nay là siêu cường chế tạo của thế giới.” Về sản lượng gộp, ông viết: “Tỷ trọng của Trung Quốc gấp ba lần tỷ trọng của Hoa Kỳ, gấp sáu lần Nhật Bản, gấp chín lần Đức.”
Con số ấy đặt nền cho một kết luận liên quan trực tiếp tới cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam. Vẫn trong nghiên cứu đó, Baldwin viết: “Các dữ liệu này cho thấy việc tách rời sẽ khó khăn, chậm chạp, tốn kém và gây xáo trộn, đặc biệt với các nhà sản xuất thuộc nhóm G7.”
Baldwin còn nêu một điểm mà nước đứng ở khâu lắp ráp cần đọc kỹ. Theo ông, tỷ trọng của Trung Quốc trong xuất khẩu toàn cầu chỉ bằng khoảng một nửa tỷ trọng sản lượng của nước này, vì đó là một nền kinh tế lớn tương đối khép kín. Baldwin tóm lại trong bản cập nhật ngày 25/9/2025 bằng một câu ngắn: “Trung Quốc là khách hàng tốt nhất của chính mình.” Một nền sản xuất càng tự cung được nhiều đầu vào thì càng giữ được nhiều giá trị, đó đúng là hướng mà doanh nghiệp trong nước, phân tích ở mục ngay sau đây, đang đặt ra.


Tỷ trọng doanh nghiệp trong nước

Hai khu vực kinh tế, hai chiều cán cân
Đây là chỗ dữ liệu nói rõ nhất. Ở mốc 8 tháng, doanh nghiệp 100% vốn trong nước xuất khẩu 73,9 tỷ USD, chỉ tăng 6,5% và chiếm 19,8% tổng kim ngạch; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu 300,1 tỷ USD, tăng 26,7% và chiếm 80,2%. Ở chiều nhập, khu vực trong nước nhập 105,5 tỷ USD, tăng 24,2%; khu vực FDI nhập 290,9 tỷ USD, tăng 40,4% và chiếm 73,4% tổng kim ngạch nhập khẩu. Trừ hai chiều cho nhau: khu vực trong nước nhập siêu khoảng 31,6 tỷ USD, còn khu vực FDI xuất siêu khoảng 9,2 tỷ USD, hai vế cộng lại đúng bằng mức nhập siêu 22,4 tỷ USD của cả nước. Khoảng cách tăng trưởng giữa hai khu vực, 26,7% so với 6,5%, là con số đáng lo hơn cả bản thân mức nhập siêu.
Có một cách đọc khác còn sắc hơn: đọc theo phần tăng thêm. So với cùng kỳ, xuất khẩu 8 tháng tăng thêm khoảng 67,75 tỷ USD. Trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm phần lớn. Tỷ trọng 19,8% cho biết doanh nghiệp trong nước đang nắm bao nhiêu phần của chiếc bánh; họ giành thêm được bao nhiêu phần của phần bánh mới. Vế thứ hai mới là vế nói về tương lai.
So với năm 2025, tỷ trọng doanh nghiệp trong nước trong xuất khẩu tiếp tục co lại: cả năm 2025 khu vực này xuất 107,95 tỷ USD, giảm 6,1%, chiếm 22,7% (Cục Thống kê, báo cáo quý IV và năm 2025); Bảng 13 của Dự thảo Chiến lược phát triển ngành Công Thương đến năm 2030 do Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương soạn (bản 20/7/2026) ghi 28,7% năm 2024 và 23,0% năm 2025 theo số Cục Hải quan. Đà lùi diễn ra từng tháng: hết tháng 6, khu vực trong nước xuất khẩu 53,51 tỷ USD, tăng 4,6%, chiếm 20,1% tổng kim ngạch (Viện Chiến lược Chính sách Công Thương, báo cáo tháng 6/2026); hết tháng 7 còn 19,9%; hết tháng 8 còn 19,8%.
Cũng cần đọc kỹ phía FDI. Cả năm 2025 khu vực này xuất siêu 49,46 tỷ USD, đủ bù cho phần nhập siêu 29,43 tỷ USD của khu vực trong nước (Cục Thống kê, báo cáo năm 2025). Tám tháng năm 2026, mức xuất siêu của FDI chỉ còn khoảng 9,2 tỷ USD vì họ đang nhập rất mạnh linh kiện và máy móc, nên tấm đệm cũ không còn đủ dày để che phần thâm hụt 31,6 tỷ USD của khu vực trong nước. Đó là cơ chế số học đứng sau con số 22,4 tỷ USD.
Chính người đứng đầu ngành đã đặt vấn đề ấy tại Hội nghị Chính phủ với địa phương ngày 8/7/2026. Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng nhận định: “Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trưởng rất cao nhưng xuất siêu cần phải được kiểm soát”. Một câu ngắn nhưng gói đủ hai vế của tuyến bài này: tốc độ là thành tích, còn cán cân là việc phải quản.

Trước khi kết luận về sức khoẻ đối ngoại của nền kinh tế, phải đặt con số 22,4 tỷ USD vào đúng khung của nó.

Cán cân vãng lai năm 2026 tính bằng phần trăm GDP, số dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế
Cán cân thương mại hàng hoá chỉ đo phần hàng xuất và hàng nhập. Cán cân vãng lai đo rộng hơn, gồm cả dịch vụ, thu nhập từ đầu tư và kiều hối. Theo cơ sở dữ liệu World Economic Outlook bản tháng 4/2026 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, cán cân vãng lai của Việt Nam năm 2026 vẫn được dự báo thặng dư 5,3% GDP, giảm so với mức 6,7% của năm 2025 nhưng vẫn thuộc nhóm cao trong khu vực và cao hơn nhiều mức bình quân thế giới 0,4%.


Nguồn: Quỹ Tiền tệ Quốc tế, cơ sở dữ liệu World Economic Outlook bản tháng 4/2026, chỉ tiêu BCA_NGDPD, truy xuất ngày 26/8/2026. Số dự báo cả năm, không phải kết quả thực hiện; phạm vi đối chiếu là 8 nền kinh tế châu Á nêu tên cộng mức bình quân thế giới.
Hai vế phải giữ cùng lúc, bỏ vế nào cũng thành sai.
Hai vế phải giữ cùng lúc, bỏ vế nào cũng thành sai. Bỏ vế thứ nhất, tức chỉ nói cán cân vãng lai còn thặng dư mà không nói nhập siêu hàng hoá thì chưa thấy khu vực doanh nghiệp trong nước và mức phụ thuộc vào linh kiện, thiết bị nhập từ Đông Á. Bỏ vế thứ hai, tức chỉ nói nhập siêu mà lờ đi thặng dư vãng lai, thì bạn đọc sẽ tưởng nền kinh tế đang mất cân đối đối ngoại, trong khi dịch vụ, kiều hối và thu nhập đầu tư vẫn đang bù lại được phần lớn.
Trong nhóm đối chiếu trên, hai nền kinh tế có thặng dư vãng lai lớn nhất là Singapore và Hàn Quốc, đều là những nơi đã đi qua giai đoạn nhập máy móc để dựng năng lực sản xuất và nay sống bằng phần giá trị gia tăng giữ lại được. Việt Nam đang ở đoạn trước đó của cùng con đường: nhập thiết bị và linh kiện để mở rộng năng lực, nên nhập siêu hàng hoá là hệ quả có thể giải thích được. Câu hỏi không phải là nhập siêu hay không, mà là bao lâu nữa thì phần giá trị giữ lại trong nước đủ lớn để cán cân hàng hoá tự đảo chiều. Câu trả lời còn ở phía trước và không phải của riêng ngành Công Thương giải ngay được.

Tỷ trọng của khối doanh nghiệp trong nước không phải một chỉ số riêng của Việt Nam. Đó là phiên bản Việt Nam của một câu hỏi đang được đặt ra trên phạm vi toàn cầu.
Câu hỏi ấy đã được nêu ở cấp cao nhất. Ngày 8/6/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10 về chuyển từ tư duy thu hút vốn sang phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia, lấy chất lượng, chuyển giao công nghệ và mức tham gia chuỗi giá trị làm tiêu chí chủ yếu. Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị quán triệt nghị quyết ngày 30/6/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt vấn đề: “Chúng ta không còn đặt câu hỏi làm thế nào để có thêm vốn nước ngoài nữa, thay vào đó chúng ta phải trả lời câu hỏi hóc búa hơn: làm thế nào sử dụng hiệu quả nguồn lực nước ngoài để nâng cao nội lực, năng lực công nghệ, sức cạnh tranh và tự chủ của nền kinh tế”. Con số hôm nay giữa hai khu vực doanh nghiệp chính là hình hài định lượng của câu hỏi ấy trong lĩnh vực xuất khẩu.
Báo cáo Đầu tư Thế giới 2026 do Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển công bố ngày 07/7/2026 cho biết dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu năm 2025 tăng 6% lên 1,6 nghìn tỷ USD, chấm dứt hai năm suy giảm liên tiếp. Nhưng phục hồi ấy rất không đều: dòng vốn vào các nền kinh tế phát triển tăng 11%, trong khi các nền kinh tế đang phát triển chỉ tăng 2% và đạt 901 tỷ USD. Báo cáo cũng chỉ ra phần lớn mức tăng đến từ một số ít siêu dự án, đặc biệt là hạ tầng số phục vụ trí tuệ nhân tạo; hai mươi nền kinh tế tiếp nhận hàng đầu hút hơn 80% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu; các ngành chiến lược chiếm 44% giá trị các dự án đầu tư mới, tăng mạnh so với mức 16% của năm 2020.
Điểm đắt nhất của báo cáo lại nằm ở một câu đánh giá chứ không ở con số. Cơ quan này nêu rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn là nguồn tài chính bên ngoài quan trọng của các nền kinh tế đang phát triển, nhưng tác động phát triển của nó phụ thuộc vào việc dòng vốn ấy có xây được năng lực sản xuất, việc làm, kỹ năng và chuyển giao công nghệ hay không. Vấn đề, theo cách diễn đạt của báo cáo, không chỉ là bao nhiêu vốn đang dịch chuyển, mà là vốn đi đâu và tạo ra cái gì.
Cần nói rõ phương pháp trước khi đặt cạnh số của ta: vốn đã vào, đơn hàng đã có, năng lực sản xuất đã hình thành. Phần cần phải làm tốt hơn nữa là chuyển giao công nghệ và phần giá trị ở lại với doanh nghiệp Việt.


Tại Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu để góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số do Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc chủ trì ngày 25/6/2026, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng nêu bốn rủi ro lớn của hoạt động xuất nhập khẩu: độ mở nền kinh tế quá cao; phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu, máy móc; tập trung vào một số thị trường xuất khẩu chủ lực; chưa làm chủ được chuỗi logistics, vận tải quốc tế. Cũng tại hội nghị, Bộ trưởng cho biết, Bộ đã cắt giảm 367/658 điều kiện kinh doanh, đưa vào vận hành nền tảng số quản lý và phát triển thị trường nước ngoài, đang xây dựng hệ thống cảnh báo sớm về phòng vệ thương mại, nghiên cứu Luật Phòng vệ thương mại riêng và phát triển đội tàu vận tải biển quốc tế của Việt Nam.
Bốn rủi ro ấy khớp với dữ liệu 8 tháng ở ba điểm: nhập siêu 22,4 tỷ USD phản ánh sự phụ thuộc vào nguyên liệu, máy móc; tỷ trọng 19,8% của doanh nghiệp trong nước phản ánh mức độ tự chủ; Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất và Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất phản ánh mức tập trung thị trường. Cùng cách đọc ấy, Việt Nam nhập siêu 38,0 tỷ USD với Hàn Quốc. Hai tuần sau, tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chỉ đạo của Bộ về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số ngày 10/7/2026, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng xác định ba bài toán lớn của ngành, trong đó có tự chủ công nghiệp gắn với nội địa hoá và hiện đại hoá thương mại bằng dữ liệu, logistics thông minh; đồng thời yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” hành chính sang “quản trị” hiện đại, lấy chất lượng sản phẩm thực tế và khả năng tối ưu hoá nguồn lực từ khu vực FDI tới doanh nghiệp tư nhân làm thước đo.
Ngày 17/8/2026 Bộ Công Thương họp lấy ý kiến các đơn vị về Dự thảo Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hoá đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, thay cho chiến lược ban hành theo Quyết định 493/QĐ-TTg ngày 19/4/2022. Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân yêu cầu nhìn xuất nhập khẩu theo hướng “cân bằng động”, tức tính cả cán cân thương mại, từng đối tác, từng khu vực của nền kinh tế và vai trò của nhập khẩu đối với sản xuất trong nước; ông nhấn mạnh: “Điều quan trọng không chỉ là xác định mục tiêu tăng trưởng mà phải làm rõ để đạt được mục tiêu đó thì cần đi theo con đường nào, có những giải pháp gì và những giải pháp đó phải được lượng hóa bằng các chỉ tiêu, con số cụ thể”. Dự thảo có 4 quan điểm, 9 nhóm giải pháp và 82 nhiệm vụ, xây dựng theo Kết luận số 18-KL/TW ngày 2/4/2026 của Hội nghị Trung ương 2 khoá XIV về mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Dự thảo đặt tăng trưởng xuất khẩu 15 tới 16%/năm, nhập khẩu 12 tới 13%/năm và thặng dư thương mại 8 tới 10% kim ngạch xuất khẩu vào năm 2030. Song có lẽ chỉ tiêu tỷ trọng doanh nghiệp trong nước trong xuất khẩu đạt 30% vào năm 2030 từ nền 23,0% năm 2025; con số của 8 tháng cho thấy chỉ tiêu ấy phải đi kèm giải pháp cụ thể chứ không thể tự đến.

Cấu trúc nhập siêu mà bài này mô tả có một lời giải đã thành văn. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV yêu cầu “thu hút có chọn lọc đầu tư nước ngoài, gắn với chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, tạo sự liên kết, lan toả với khu vực kinh tế trong nước”.
Bốn vế trong câu ấy tương ứng với bốn phép đo mà số liệu hiện hành chưa có: chọn lọc đo bằng gì, chuyển giao công nghệ đo bằng gì, năng lực sản xuất tăng thêm bao nhiêu và mức lan toả sang doanh nghiệp trong nước tới đâu. Ngành mới công bố vốn đăng ký cùng vốn thực hiện, tức là đo đầu vào chứ chưa đo tác động.
Đặt cạnh hai con số của bài, tỷ trọng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước lùi về 19,8% và tư liệu sản xuất chiếm 94,1% kim ngạch nhập khẩu, có thể nói vế thứ tư là vế yếu nhất. Nghị quyết nêu hướng xử lý ở tầng doanh nghiệp: “có cơ chế đột phá thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, hợp tác xã, viện nghiên cứu, trường đại học và các trung tâm đổi mới sáng tạo”.

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy ra tính theo tỷ lệ trên GDP, so sánh nhiều nền kinh tế. Nguồn: Wikimedia Commons, giấy phép CC BY 3.0
Sáu tháng trước Nghị quyết Trung ương 3, Bộ Chính trị đã có một nghị quyết riêng về đúng khu vực này. Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nêu thẳng trong phần đánh giá: tỷ lệ nội địa hoá và giá trị tăng thêm hình thành ở Việt Nam còn thấp, “liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước chưa cao, chuyển giao công nghệ còn hạn chế”.
Điều đáng chú ý là cách Nghị quyết đổi tiêu chí. Thay vì đo bằng vốn đăng ký, Nghị quyết lấy “chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng” làm tiêu chí chủ yếu. Nghị quyết chuyển hướng chính sách “từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ theo kết quả”. Đây chính là phép đo mà tuyến bài này đã nhiều lần nêu là còn thiếu: hiện ngành mới công bố vốn đăng ký cùng vốn thực hiện, tức đo đầu vào.
Đặt cạnh con số của bài, tỷ trọng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước và nhập khẩu tư liệu sản xuất cao thì hai văn bản của Đảng trong cùng một năm đều chỉ về một chỗ: dòng vốn đã vào đủ, phần chưa đủ là mức lan toả sang khu vực trong nước.
ĐẠI BÀNG, LÂM VỸ SƠN, HƯƠNG GIANG
