Công ước Hà Nội: Lá chắn chống tội phạm mạng

Công ước Hà Nội không chỉ là một văn kiện pháp lý toàn cầu mà còn là cam kết mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế trong việc xây dựng không gian mạng an toàn, lành mạnh.

Tội phạm mạng, đặc biệt là tội phạm có tổ chức và xuyên quốc gia, đang trở thành mối đe dọa nguy hiểm đối với an ninh con người và an ninh quốc gia. Tính ẩn danh, xuyên biên giới và công nghệ cao khiến việc truy vết, thu thập chứng cứ điện tử và xử lý theo pháp luật quốc gia gặp nhiều rào cản về thẩm quyền, cơ sở pháp lý và kỹ thuật.

Trong bối cảnh đó, Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng (Công ước Hà Nội) ra đời là một dấu mốc lịch sử, thiết lập khuôn khổ pháp lý toàn cầu thống nhất, nhằm tăng cường hợp tác quốc tế, thu hẹp khoảng trống pháp lý và tạo “lá chắn” hiệu quả để các quốc gia chủ động phòng ngừa, đấu tranh và xử lý tội phạm mạng một cách toàn diện.

Khung pháp lý quốc tế toàn diện

Công ước Hà Nội gồm 9 Chương, 68 Điều, thiết lập khuôn khổ pháp lý toàn diện điều chỉnh các hành vi tội phạm mạng như truy cập trái phép, can thiệp bất hợp pháp vào hệ thống, xâm phạm tính toàn vẹn dữ liệu… nhằm tăng cường hiệu lực của các biện pháp phòng ngừa và đấu tranh đối với tội phạm mạng.

 Chủ tịch nước Lương Cường, Tổng thư ký Liên hợp quốc António Guterres và các đại biểu tại lễ mở ký Công ước Hà Nội. Ảnh: VGP

Chủ tịch nước Lương Cường, Tổng thư ký Liên hợp quốc António Guterres và các đại biểu tại lễ mở ký Công ước Hà Nội. Ảnh: VGP

Điều 21 của công ước yêu cầu các quốc gia thành viên thiết lập khung pháp luật quốc gia để điều tra, truy tố, xét xử và áp dụng chế tài hiệu quả, tương xứng đối với các hành vi phạm tội. Đồng thời, bảo đảm đầy đủ quyền tố tụng, cơ chế bảo vệ đặc biệt đối với trẻ em; tuân thủ pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, đặc biệt là pháp luật quốc tế về quyền con người.

Quy định này thể hiện rõ tinh thần thống nhất hóa chuẩn mực pháp luật hình sự quốc tế về tội phạm mạng, khắc phục “khoảng trống pháp lý” giữa các quốc gia, vốn là “kẽ hở” để tội phạm có tổ chức xuyên biên giới lợi dụng.

Quyền lợi, trách nhiệm và cơ hội

Công ước có hiệu lực sau 90 ngày kể từ khi văn kiện phê chuẩn thứ 40 được nộp cho Tổng thư ký Liên hợp quốc. Với Việt Nam, theo Hiến pháp 2013 và Luật Điều ước quốc tế 2016, công ước sẽ có hiệu lực khi được Chủ tịch nước phê chuẩn. Khi đó, Việt Nam sẽ có quyền yêu cầu các quốc gia thành viên của công ước cung cấp thông tin, chứng cứ, phối hợp điều tra, hợp tác tương trợ tư pháp về hình sự, dẫn độ, thu hồi tài sản…; tham gia đàm phán, biểu quyết và định hình cơ chế vận hành của công ước.

Đồng thời,Việt Nam có nghĩa vụ nội luật hóa các hành vi phạm tội theo quy định của công ước; bảo đảm các cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để phòng ngừa, điều tra và xử lý tội phạm; hợp tác trong việc chia sẻ thông tin, chứng cứ điện tử, hợp tác tương trợ tư pháp về hình sự, dẫn độ, thu hồi tài sản… với các quốc gia thành viên của công ước khi được yêu cầu.

 Chiều 24-12-2024 (giờ New York), Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua bằng đồng thuận Công ước Liên hợp quốc về tội phạm mạng. Đại diện phái đoàn Việt Nam phát biểu tại sự kiện thông qua Công ước Hà Nội. Ảnh: TTXVN

Chiều 24-12-2024 (giờ New York), Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua bằng đồng thuận Công ước Liên hợp quốc về tội phạm mạng. Đại diện phái đoàn Việt Nam phát biểu tại sự kiện thông qua Công ước Hà Nội. Ảnh: TTXVN

Việt Nam - từ chủ nhà đến quốc gia thực thi gương mẫu

Là quốc gia đăng cai lễ mở ký và là một trong 72 nước ký công ước tại Hà Nội từ ngày 25 đến 26-10-2025, Việt Nam đã chứng minh năng lực dẫn dắt và hội nhập pháp lý quốc tế sâu rộng trong lĩnh vực an ninh mạng.

Quốc hội đã thông qua Luật An ninh mạng 2025 trên cơ sở hợp nhất Luật An toàn thông tin mạng 2015 và Luật An ninh mạng 2018 theo hướng thống nhất, toàn diện và tương thích với các chuẩn mực của Công ước Hà Nội. Đây là bước đi thể hiện tư duy chiến lược trong hoàn thiện thể chế, giúp Việt Nam vừa bảo đảm an ninh quốc gia không gian mạng, vừa đáp ứng các cam kết quốc tế về quyền con người, quyền riêng tư và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.

Đồng thời, việc thực thi công ước cũng tạo điều kiện để Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới hợp tác quốc tế, nâng cao năng lực truy vết, điều tra và xử lý tội phạm mạng xuyên biên giới, vốn là thách thức lớn của thời đại công nghệ.

Lợi ích thiết thực với người dân, doanh nghiệp

Khi Công ước Hà Nội có hiệu lực, các nền tảng xuyên biên giới buộc phải tuân thủ quy chuẩn bảo mật quốc tế, hạn chế rò rỉ dữ liệu cá nhân và giảm thiểu hành vi lừa đảo trực tuyến.

Với người dân, công ước góp phần bảo vệ quyền riêng tư và an toàn dữ liệu cá nhân, tài sản số, giảm các hành vi lừa đảo, tấn công mạng...

Với doanh nghiệp, môi trường mạng an toàn, ổn định, minh bạch hơn giúp củng cố niềm tin của khách hàng, giảm rủi ro pháp lý, tạo điều kiện phát triển kinh tế số bền vững.

Trước khi có công ước

Giả định công an Việt Nam phát hiện một vụ lừa đảo qua website nhưng máy chủ lại ở nước ngoài. Nếu là trước đây, Việt Nam phải gửi “yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự” thông qua đường ngoại giao. Quá trình này thường rất chậm, có thể mất nhiều tháng đến vài năm nên khi nhận được dữ liệu thì rất có thể nhóm tội phạm đã kịp thời xóa sạch dấu vết và biến mất.

Sau khi có công ước

Khi Công ước Hà Nội có hiệu lực, Việt Nam có quyền yêu cầu trực tiếp các quốc gia thành viên của công ước cung cấp ngay lập tức các thông tin như log truy cập, thông tin đăng ký tài khoản, lịch sử giao dịch trên server. Nước bạn có nghĩa vụ hợp tác, tương trợ tư pháp về hình sự theo quy định của công ước. Nhờ vậy, việc truy vết, xác định danh tính đối tượng và thu thập chứng cứ diễn ra nhanh chóng, kịp thời hơn rất nhiều.

PGS-TS NGÔ HỮU PHƯỚC, Phó Trưởng khoa phụ trách khoa Luật kinh tế, Trường ĐH Kinh tế - Luật

Nguồn PLO: https://plo.vn/cong-uoc-ha-noi-la-chan-chong-toi-pham-mang-post893434.html