Cụ Huỳnh Thúc Kháng, người chí sĩ yêu nước, hết lòng vì dân tộc

(NB&CL) Tháng 10 này là tròn 150 năm ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng, người mà cả cuộc đời và sự nghiệp là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, khí tiết, nhân cách và tinh thần tận tụy phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Như nhấn mạnh của Bác Hồ trong thư gửi đồng bào cả nước ngày 29/4/1947 báo tin cụ Huỳnh qua đời: “…Cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao… Cụ Huỳnh là người mà giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập”.

Đỗ đạt cao nhưng không ra làm quan mà dấn thân vào hoạt động yêu nước

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho nghèo gốc nông dân của tỉnh Quảng Nam, vùng đất địa linh nhân kiệt, cụ Huỳnh Thúc Kháng, tên gọi lúc nhỏ là Huỳnh Văn Thước, sau đi học gọi là Huỳnh Hanh, tự Giới Sanh, hiệu Minh Viên, sinh ngày 01/10/1876 tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Thạnh Bình, thành phố Đà Nẵng). Thân phụ là cụ Huỳnh Văn Phương, một nhà nho từng theo nghiệp đèn sách và thạo nghề nông; thân mẫu là cụ Nguyễn Thị Tình, người cùng quê, một phụ nữ mực thước, đảm đang.

Thừa hưởng từ người cha nhà nho, ngay từ nhỏ, Huỳnh Hanh đã nổi tiếng thông minh, học giỏi. Năm Canh Tý (1900), Huỳnh Hanh đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương và từ đây lấy tên gọi là Huỳnh Thúc Kháng; đỗ Tam giáp Tiến sĩ Hội nguyên năm Giáp Thìn (1904).

Tuy đỗ đạt cao, Huỳnh Thúc Kháng không ra làm quan mà dấn thân vào các hoạt động yêu nước, tìm con đường canh tân, cứu dân, cứu nước. Năm 1905, Huỳnh Thúc Kháng cùng Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp đi vào phía Nam, tìm hiểu tình hình thực tế, xem xét dân tình, sĩ khí, đề xướng tân học và tìm kiếm những người cùng chí hướng vận động cho phong trào Duy Tân. Năm 1906, trở về Quảng Nam, Huỳnh Thúc Kháng cùng các đồng chí khởi xướng và lãnh đạo phong trào Duy Tân.

Cụ tích cực tuyên truyền, diễn thuyết ở nhiều nơi, vận động Nhân dân từ bỏ lối học khoa cử, chú trọng thực học, học chữ Quốc ngữ, tiếp thu tư tưởng tiến bộ và mở mang tri thức. Cụ tham gia vận động mở trường tân học, khuyến khích học tập, phát triển thương nghiệp, lập thương hội, cổ vũ sản xuất và thực nghiệp. Đối với cụ Huỳnh Thúc Kháng, khai trí phải gắn với chấn hưng kinh tế và cải thiện đời sống Nhân dân. Vì vậy, cụ không chỉ đề cao giáo dục mà còn chú trọng phát triển thương nghiệp, thực nghiệp, khuyến khích sản xuất và nâng cao dân sinh.

Hoạt động của cụ có ảnh hưởng sâu rộng trong sĩ phu và nhân dân Quảng Nam, góp phần đưa tư tưởng duy tân từ phạm vi một bộ phận sĩ phu tiến bộ trở thành một phong trào xã hội có sức lan tỏa.

13 năm bị giam cầm vẫn giữ vững khí tiết, lòng yêu nước

Tuy nhiên, đến năm 1908, phong trào Duy Tân cùng các hoạt động vận động dân quyền, phát triển thương nghiệp và giáo dục ở Trung Kỳ bị chính quyền thực dân, phong kiến đàn áp mạnh mẽ. Ngày 24/2/1908, cụ Huỳnh Thúc Kháng bị bắt và giải về nhà lao Hội An. Trong quá trình thẩm vấn, cụ kiên quyết bác bỏ cáo buộc xúi giục Nhân dân nổi dậy, đồng thời khẳng định mục đích các hoạt động diễn thuyết của mình là khai trí, phát triển kinh tế, cải cách giáo dục và cổ vũ dân quyền, không phải kích động bạo loạn. Trong 13 năm bị giam cầm (1908 - 1921), dù phải chịu nhiều gian khổ, hiểm nguy, cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn giữ vững khí tiết, lòng yêu nước, thương dân và ý chí đấu tranh.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng và báo Tiếng Dân.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng và báo Tiếng Dân.

Năm 1921, sau khi được trả tự do, cụ Huỳnh Thúc Kháng trở về quê hương và tiếp tục tìm kiếm những hình thức đấu tranh phù hợp với hoàn cảnh mới. Chuyện kể rằng khi đó, Khâm Sứ Trung Kỳ Pasquier lại chiêu dụ cụ ra làm quan. Cụ Huỳnh dứt khoát: “Tôi chỉ có cái tội là đậu tiến sĩ mà không đi làm quan cho nên mới bị đi tù, trước đã thế huống chi bây giờ, xin ngài miễn nói đến việc ấy”.

Năm 1926, cụ được bầu làm dân biểu Trung Kỳ và được cử làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Trong thời gian hoạt động tại Viện, cụ kiên quyết đấu tranh đòi quyền lợi cho Nhân dân, chống lại những chính sách cai trị bất công của thực dân Pháp và chính quyền tay sai. Nhận thấy sự can thiệp, hạn chế của chính quyền thực dân, năm 1928, cụ quyết định từ chức.

“Thét tiếng dân giữa kinh thành Huế”

Đó là lời của cố Tổng Bí thư Trường Chinh tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc (tháng 7/1948) tại chiến khu Việt Bắc khi đánh giá về 16 năm hào khí của tờ báo Tiếng Dân tại Huế do cụ Huỳnh Thúc Kháng sáng lập đồng thời làm chủ nhiệm kiêm chủ bút.

Báo Tiếng Dân.

Báo Tiếng Dân.

Trước đó, ngay khi còn là Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã sớm nhận thấy sức mạnh của báo chí đối với việc mở mang dân trí, khơi dậy lòng yêu nước và bảo vệ quyền lợi chính đáng của Nhân dân. Từ sự nhận diện ấy, năm 1927, cụ Huỳnh Thúc Kháng cho ra đời tờ báo Tiếng Dân. Số đầu tiên của Tiếng Dân ra mắt ngày 10/8/1927, xuất bản mỗi tuần hai kỳ vào thứ Năm và thứ Bảy, mỗi kỳ 4 trang. Trên trang đầu của số thứ hai, tờ báo in rõ dòng chữ Pháp “La voix du peuple” (Tiếng nói của dân) và chữ Hán “Dân Thanh”. Trên những số báo Tiếng Dân, cụ Huỳnh nói rõ về tuyên ngôn của tờ báo: “Dân là đầu mối của nước, báo này mang tên Tiếng Dân vì trong thực tế phải nhờ đến báo chí thì tiếng nói của dân mới bộc lộ ra được” và “Nếu không có quyền nói tất cả những điều mình muốn nói thì ít ra cũng giữ cái quyền không nói những điều người ta ép buộc nói”.

Trong 16 năm hoạt động (từ năm 1927 khi bị đình bản năm 1943) với 1.766 số báo, Tiếng Dân luôn giữ vững tôn chỉ độc lập, phản ánh chân thực đời sống Nhân dân, tố cáo chế độ tù đày, chính sách áp bức, thuế khóa bất công. Để chống lại các thủ đoạn mị dân của thực dân, Tiếng Dân còn giáo dục đạo đức, tri thức, chính trị và kinh tế cho người dân, giáo dục quần chúng đấu tranh đòi dân chủ, dân sinh. Cơ quan kiểm duyệt của thực dân Pháp nhiều lần buộc tòa soạn phải chỉnh sửa theo yêu cầu của chúng, tuy nhiên cụ Huỳnh thẳng thừng từ chối: “Hoặc là cho đăng nguyên văn, hoặc là bỏ, một chữ cũng không sửa”.

Có thể khẳng định, báo Tiếng Dân do cụ Huỳnh Thúc Kháng sáng lập đã trở thành diễn đàn phản ánh những vấn đề dân sinh, dân chủ, bảo vệ quyền lợi Nhân dân và cổ vũ tinh thần dân tộc.

Lớp học viết báo Huỳnh Thúc Kháng.

Lớp học viết báo Huỳnh Thúc Kháng.

Để nhớ ơn và ghi nhận những đóng góp của cụ Huỳnh Thúc Kháng, tên của cụ được đặt tên cho trường dạy làm báo tại xóm Bờ Rạ (nay thuộc xã Tân Thái), huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Trong diễn văn khai giảng ngày 4/4/1949, nhà cách mạng kỳ cựu Hoàng Quốc Việt đã nêu: “Mang tên cụ Huỳnh Thúc Kháng là để nhớ ơn và noi gương cụ lão thành ái quốc và đồng thời cũng là một nhà viết báo lâu năm, có danh tiếng, nêu một tấm gương cho các học viên một đức tính học hỏi cần mẫn, một óc tổ chức tiến bộ, một chí khảng khái, bất khuất, là những đức tính căn bản cho một ký giả”.

Nguyễn Hà

Nguồn Công Luận: https://congluan.vn/cu-huynh-thuc-khang-nguoi-chi-si-yeu-nuoc-het-long-vi-dan-toc-post361715.html