Cửa nào cho ngành gạo Việt 2026

Đằng sau những thuận lợi về nhu cầu thị trường và xu hướng chuyển dịch sang gạo chất lượng cao là sự phân hóa ngày càng rõ giữa các doanh nghiệp về mô hình kinh doanh, năng lực quản trị chuỗi giá trị và khả năng thích ứng với biến động giá.

Cơ hội tăng trưởng xuất khẩu gạo 2026 song hành thách thức chi phí và chất lượng. Ảnh: Hoàng Anh

Cơ hội tăng trưởng xuất khẩu gạo 2026 song hành thách thức chi phí và chất lượng. Ảnh: Hoàng Anh

Trái chiều bức tranh hoạt động ngành gạo

Dù vẫn duy trì vị thế trong nhóm các quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, ngành gạo Việt Nam bước vào năm 2026 với một bức tranh không hoàn toàn đồng nhất.

Ghi nhận từ báo cáo tài chính quý I/2026 của 12 doanh nghiệp ngành gạo đã công bố cho thấy, tổng doanh thu đạt hơn 8.200 tỷ đồng, giảm hơn 10% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, trái ngược với xu hướng suy giảm doanh thu, lợi nhuận toàn nhóm lại tăng mạnh, đạt 94 tỷ đồng, cao hơn hơn ba lần so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, Vinaseed lãi 41 tỷ đồng, Thương mại Kiên Giang 29 tỷ đồng, Afiex 18 tỷ đồng. Tân binh mới trên sàn HoSE là Lương thực A An cũng ghi nhận kết quả tích cực với lợi nhuận 9 tỷ đồng. Đây là những doanh nghiệp đóng góp phần lớn lợi nhuận của toàn nhóm trong quý đầu năm.

Ở chiều ngược lại, Tổng công ty Lương thực miền Nam (Vinafood 2) tiếp tục là trụ cột về doanh thu khi đóng góp hơn 2.949 tỷ đồng, tương đương khoảng 40% tổng doanh thu của nhóm doanh nghiệp được thống kê, tuy nhiên, lợi nhuận chỉ đạt 5 tỷ đồng, thuộc nhóm có hiệu suất kinh doanh thấp nhất ngành. Nông nghiệp công nghệ cao Trung An đạt 2 tỷ đồng lợi nhuận, Xuất nhập khẩu Kiên Giang đạt 5 tỷ đồng.

Trong khi đó, Xuất nhập khẩu An Giang lỗ 13 tỷ đồng và Thực phẩm Hà Nội - Kinh Bắc lỗ 15 tỷ đồng.

Sự khác biệt lợi nhuận phản ánh sự khác biệt về mô hình kinh doanh, tư duy quản trị và tầm nhìn chiến lược. Trong vài năm vừa qua, Vinaseed và Giống cây trồng Miền Nam đã đẩy mạnh đầu tư phát triển trong mảng giống cây trồng, nơi giá trị không chỉ đến từ sản lượng mà còn từ nghiên cứu, chọn tạo giống, chất lượng hạt giống, thương hiệu và khả năng định giá. Đây là phân khúc có rào cản kỹ thuật cao hơn, biên lợi nhuận tốt hơn và ít bị cuốn hoàn toàn vào chu kỳ biến động giá gạo thương phẩm.

Trong khi đó, sau khi tái cấu trúc, A An và Afiex đều đã xác định lại chiến lược với việc chú trọng vào nhóm chế biến – thương mại gạo, với chuỗi hoạt động từ thu mua lúa, sấy, xay xát, lau bóng, phân loại, đóng gói đến phân phối và xuất khẩu, qua đó nâng cao kiểm soát chi phí, cải thiện biên lợi nhuận. Đây được xem là bước chuyển quan trọng với A An hay Afiex khi giúp các doanh nghiệp này thoát khỏi vị thế của một nhà cung cấp nguyên liệu thuần túy, để tiến gần hơn tới mô hình doanh nghiệp sản phẩm – nơi giá trị không chỉ nằm ở sản lượng, mà ở thương hiệu và trải nghiệm tiêu dùng.

Thực tế, sau nhiều thập kỷ theo đuổi mục tiêu bảo đảm an ninh lương thực và duy trì vị thế trong nhóm các quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, Việt Nam đang bắt đầu viết nên một câu chuyện mới: câu chuyện về chất lượng, giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Không những vậy, việc chuyển dịch sang chất lượng với các dòng lúa gạo phát thải thấp, chất lượng cao đã giúp khẳng định thương hiệu trên bản đồ lương thực toàn cầu, qua đó đảm bảo Việt Nam giữ tiếp tục vững vị thế là quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Ấn Độ.

Trong báo cáo đánh giá của các công ty chứng khoán về ngành gạo năm 2026, các đơn vị này đều nhận định cho tới thời điểm hiện tại, Việt Nam đang giữ vững vị thế là quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Ấn Độ. Sự chuyển dịch từ số lượng sang chất lượng với các dòng lúa gạo phát thải thấp, chất lượng cao đã giúp khẳng định thương hiệu trên bản đồ lương thực toàn cầu, vượt qua các quốc gia láng giếng như Thái Lan.

Đề án phát triển 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại đồng bằng sông Cửu Long được xem là một trong những chương trình tái cấu trúc quan trọng của ngành lúa gạo, hướng tới thay đổi phương thức sản xuất từ đồng ruộng.

Cơ hội cho các doanh nghiệp ngành gạo sẽ không dàn đều, mà phụ thuộc và năng lực cùng mô hình quản trị của doanh nghiệp. Ảnh: Hoàng Anh

Cơ hội cho các doanh nghiệp ngành gạo sẽ không dàn đều, mà phụ thuộc và năng lực cùng mô hình quản trị của doanh nghiệp. Ảnh: Hoàng Anh

Cơ hội không đều cho các doanh nghiệp

Tính đến tháng 5/2026, hơn 354 nghìn ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp đã được triển khai. Con số này cho thấy sự vào cuộc của các địa phương, hợp tác xã, doanh nghiệp và nông dân trong việc thay đổi tập quán canh tác truyền thống. Điều đặc biệt hơn, Việt Nam không còn đơn thuần xuất khẩu “gạo”, mà đang từng bước định vị một thương hiệu mới: “Gạo Việt xanh, phát thải thấp”.

Tuy vậy, từ các dữ liệu về kinh doanh nêu trên cho thấy, để tận dụng các cơ hội này, các doanh nghiệp sẽ phải tính toán rất nhiều, đặc biệt là câu chuyện tái cấu trúc sâu rộng nội tại.

Hiện tại, lợi ích kinh tế không được chia đều khi gần như toàn bộ phần thặng dư tăng thêm chảy vào hai ông lớn là Vinaseed và Thương mại Kiên Giang với lợi thế cạnh tranh dài hạn nghiêng về kiểm soát công nghệ giống hay Afiex hay A An nhờ vào các mô hình tích hợp chuỗi giá trị.

Trong khi đó, đầu tàu của ngành là Vinafood II dù đóng góp tới 40% doanh thu toàn nhóm, nhưng lại chứng kiến quy mô giao dịch thu hẹp và lợi nhuận sụt giảm. Lưu ý rằng, để có mức lãi này, công ty đã phải thực hiện cắt giảm quyết liệt các khoản chi phí từ tài chính đến bán hàng. Dẫu vậy, bức tranh ở cấp độ công ty mẹ lại hoàn toàn ảm đạm khi vẫn ghi nhận khoản lỗ 4,2 tỷ đồng trong quý I/2026, mức lỗ tăng thêm 21% so với năm trước.

Cùng với đó, dòng tiền kinh doanh thuần của doanh nghiệp vẫn chưa thể đảo ngược tình thế, tiếp tục âm 75,7 tỷ đồng trong quý (dù đã cải thiện so với mức âm 2.621 tỷ đồng của cùng kỳ 2025).

Phân tích của các chuyên gia cho thấy, vấn đề sống còn của Vinafood II không nằm ở kết quả kinh doanh vài quý, mà là tác động từ các khoản nợ trong quá khứ. Doanh nghiệp hiện vẫn duy trì hơn 1.254 tỷ đồng dự phòng đối với các khoản nợ xấu tồn đọng. Riêng khoản tài sản thiếu chờ xử lý phát sinh từ vụ án hình sự liên quan đến thất thoát hàng tồn kho có giá trị khoảng 648 tỷ đồng, trong khi số tiền thu hồi được đến nay mới chỉ rất nhỏ.

Ở nhóm các doanh nghiệp khác, việc chậm chuyển đổi cũng gây ra áp lực rõ rệt lên hiệu quả kinh doanh.

Những đơn vị còn phụ thuộc nhiều vào thương mại gạo truyền thống, thiếu vùng nguyên liệu ổn định, năng lực chế biến sâu hạn chế hoặc chưa xây dựng được thương hiệu riêng thường dễ bị cuốn vào vòng xoáy giá cả. Khi giá gạo xuất khẩu đi xuống, biên lợi nhuận nhanh chóng bị bào mòn. Khi giá phục hồi, không phải doanh nghiệp nào cũng còn đủ hàng tồn kho, dòng tiền và năng lực giao hàng để tận dụng cơ hội, buộc phải chấp nhận thua lỗ hoặc tìm hướng đi khác.

Đơn cử như trường hợp của TCO Holdings khi chấp nhận rời cuộc chơi ngành gạo dù từng tuyên bố định hướng phát triển ba trụ cột kinh doanh, trong đó có mảng lương thực với kinh doanh lương thực – gạo từng là một trong những nguồn thu chính trong nhiều năm tới.

Trường hợp tương tự với Tập đoàn Lộc Trời khi doanh nghiệp này đang vật lộn với các khoản nợ vay dù từng có lợi thế rất lớn về vùng nguyên liệu rộng lớn và năng lực chế biến, do phụ thuộc quá nhiều vào mô hình kinh doanh truyền thống. Giá gạo biến động mạnh khiến biên lợi nhuận ở một số phân khúc sụt giảm, trong khi chi phí vận hành và tài chính vẫn ở mức cao.

Hiện tại, theo báo cáo của Bộ Công thương, giá bình quân gạo Việt Nam đã giảm tới gần 11% so với năm 2025, xuống còn 468 USD/tấn.

Với mức giá này, theo lãnh đạo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) nhìn nhận, khiến lợi nhuận của nhà sản xuất trở nên rất thấp, tạo ra bất lợi lớn cho chuỗi sản xuất nếu doanh nghiệp không có sự chuyển đổi bên trong một cách phù hợp. Một trong những nguyên nhân chính nằm ở áp lực từ các thị trường nhập khẩu lớn như Philippines và Trung Quốc - vốn chiếm tới 70% tổng lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam.

Các thị trường này đang áp dụng chiến lược nhập khẩu vô cùng linh hoạt. Khi giá thấp, họ mua lượng rất lớn để dự trữ, nhưng khi giá cao, lập tức hạn chế mua vì hệ thống dự trữ rất tốt. Chỉ cần một sự điều chỉnh nhỏ từ phía các thị trường này sẽ lập tức ảnh hưởng đến giá trong nước.

Chẳng hạn, khi giá gạo xuống dưới 500 USD/tấn, Trung Quốc có thể tăng lượng nhập khẩu từ vài trăm nghìn tấn lên đến 1 triệu tấn khi đó sẽ gây khó khăn cho cả nhà xuất khẩu và nông dân.

Cần lưu ý thêm rằng, lo ngại xung đột ở Trung Đông có thể đẩy chi phí cước tàu, nhiên liệu, phân bón và bảo hiểm hàng hải đi lên đã khiến một số khách hàng đặt vấn đề gia tăng sản lượng với các hợp đồng khoán lớn theo kỳ hạn nhằm tăng tích trữ trong ngắn hạn.

Trong khi đó, chi phí đầu vào cho sản xuất và vận chuyển vẫn ở mức cao, trong khi các quy định nhập khẩu ngày càng chặt chẽ hơn, tạo thêm áp lực cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo.

Khi đó, lợi thế không còn thuộc về những doanh nghiệp có quy mô lớn nhất, mà nghiêng về những đơn vị kiểm soát tốt hơn chuỗi cung ứng, tồn kho, chi phí vốn và chất lượng sản phẩm.

Thực tế này cũng phản ánh sự phân hóa của ngành gạo không chỉ là phân hóa về lợi nhuận, mà sâu xa hơn là phân hóa về năng lực quản trị. Doanh nghiệp có thể cùng kinh doanh một mặt hàng, cùng chịu tác động từ một mặt bằng giá, nhưng kết quả lại khác biệt rất lớn tùy thuộc vào vị trí trong chuỗi giá trị và khả năng tổ chức vận hành.

Với nhóm doanh nghiệp giống cây trồng, lợi thế nằm ở công nghệ, bản quyền giống, chất lượng sản phẩm và khả năng định giá. Với nhóm chế biến – thương mại có định hướng rõ, lợi thế nằm ở vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn chế biến, khả năng đóng gói, xây dựng thương hiệu và tiếp cận thị trường cao cấp. Trong khi đó, với nhóm doanh nghiệp thương mại thuần túy, điểm yếu lớn nhất là sự phụ thuộc vào biên chênh lệch mua – bán vốn ngày càng mỏng trong một thị trường biến động nhanh.

Nhìn chung, cửa đi cho ngành gạo năm 2026 vì vậy không nằm ở việc chạy theo sản lượng xuất khẩu bằng mọi giá. Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu lớn như Philippines, Trung Quốc hay Indonesia ngày càng linh hoạt trong chiến lược mua hàng, doanh nghiệp Việt Nam sẽ khó duy trì lợi thế nếu chỉ dựa vào khả năng gom hàng và bán theo đơn hàng ngắn hạn.

Việt Dương

Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/cua-nao-cho-nganh-gao-2026-d46300.html