Cựu Hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình kháng cáo, đề nghị điều tra lại vụ án
Sau khi bị tuyên 3 năm tù, cựu Hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình (Hà Nội) Nguyễn Thị Bình đã nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Bị cáo cho rằng vụ án có nhiều vi phạm tố tụng, sai lầm trong đánh giá chứng cứ và có dấu hiệu hình sự hóa quan hệ hành chính.

Cựu hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình Nguyễn Thị Bình tại tòa
Ngày 8/4, bà Nguyễn Thị Bình - cựu Hiệu trưởng Trường THCS Ba Đình - đã gửi đơn kháng cáo tới Tòa án nhân dân Khu vực 1, TP Hà Nội và Tòa án nhân dân TP Hà Nội, đề nghị xem xét lại toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 206/2026/HS-ST ngày 27/3/2026.
Trước đó, trong vụ án "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ" xảy ra tại Trường THCS Ba Đình (năm học 2013-2014), bà Bình bị tuyên phạt 3 năm tù. Không đồng ý với phán quyết này, bị cáo kháng cáo cả về trách nhiệm hình sự và dân sự.
Theo nội dung đơn, bà Bình cho rằng bản án sơ thẩm đã có nhiều vi phạm tố tụng nghiêm trọng, việc điều tra chưa đầy đủ và không thể khắc phục tại cấp phúc thẩm. Đồng thời, bị cáo cho rằng tòa án cấp sơ thẩm có sai lầm trong áp dụng pháp luật cũng như đánh giá chứng cứ.
Những vấn đề liên quan đến công tác điều tra
Trong đơn, bị cáo cho rằng cơ quan điều tra có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình thu thập chứng cứ. Bị cáo cho rằng việc nhiều giáo viên đồng loạt thay đổi lời khai theo cùng một hướng là dấu hiệu bất thường, ảnh hưởng đến tính khách quan của chứng cứ.
Đáng chú ý, bị cáo nhấn mạnh chi tiết quan trọng liên quan đến tài liệu gốc của vụ án. Theo đó, tại bút lục 595, kế toán nhà trường đã bàn giao toàn bộ hồ sơ bản gốc, bao gồm các biên bản thỏa thuận học thêm của các khối 6, 7, 8, 9 năm học 2013-2014 cho điều tra viên vào ngày 8/4/2024. Việc bàn giao này được lập thành biên bản và có xác nhận của Viện kiểm sát.

Hội đồng xét xử tại phiên tòa sơ thẩm ngày 27/3.
Bị cáo cho rằng việc làm mất tài liệu gốc đã tước đi cơ hội giám định chữ ký và chứng minh tính hợp pháp của các thỏa thuận với phụ huynh, từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình bào chữa và tự bào chữa.
Ngoài ra, đơn kháng cáo cũng cho rằng cơ quan điều tra chưa làm rõ nhiều tình tiết quan trọng của vụ án, như bản chất hoạt động dạy thêm học thêm, hay sự khác biệt giữa kết luận của cơ quan thanh tra với cáo buộc hình sự.
Các kết luận thanh tra trước đây của cơ quan chức năng từng xác định việc dạy thêm tại trường được thực hiện công khai, cơ bản đúng quy định và chỉ có sai sót về nghiệp vụ kế toán. Tuy nhiên, những nội dung này không được xem xét đầy đủ trong quá trình truy tố, xét xử.
Tòa áp dụng pháp luật gấy bất lợi cho bị cáo
Trong đơn kháng cáo, bà Bình cũng phản bác quan điểm của tòa sơ thẩm về việc áp dụng các quy định pháp luật liên quan đến dạy thêm học thêm.
Cụ thể, bị cáo cho rằng mức thu 15.000 đồng/tiết được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận với phụ huynh, phù hợp với Thông tư 17/2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Theo điểm a khoản 2 Điều 7, mức thu tiền học thêm do nhà trường và phụ huynh thỏa thuận.
Trong khi đó, tại điểm c khoản 2 Điều 15, Thông tư 17 chỉ giao UBND cấp tỉnh quy định về việc thu, quản lý và sử dụng tiền học thêm, không trao thẩm quyền ấn định mức thu cụ thể. Bị cáo cho rằng việc UBND TP Hà Nội ban hành quy định mức trần là vượt thẩm quyền và không thống nhất với Thông tư 17.
Đồng thời, dẫn quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bị cáo cho rằng trong trường hợp có sự khác nhau giữa văn bản cấp Bộ và cấp tỉnh thì phải áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.
Đối với cáo buộc không có đơn xin học thêm, bị cáo cho rằng đây chỉ là thiếu sót về thủ tục hành chính, không thể suy diễn thành hành vi ép buộc. Theo lập luận, việc phụ huynh tự nguyện đóng tiền và cho con tham gia học thêm trong suốt thời gian dài đã thể hiện sự đồng thuận thực tế.
Liên quan đến nội dung chia lớp, bà Bình khẳng định việc phân nhóm học sinh theo năng lực là phù hợp với yêu cầu chuyên môn, nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, chứ không phải "lập lớp ảo" như cáo buộc.

Quang cảnh phiên tòa sơ thẩm ngày 27/3.
Đáng chú ý, bị cáo cũng phản đối cách xác định thiệt hại hơn 1 tỷ đồng của cơ quan tố tụng. Theo đó, bà Bình cho rằng phán quyết của tòa sơ thẩm đã không xem xét đầy đủ quy định và hướng dẫn nghiệp vụ hiện hành. Cụ thể, Công văn số 233/TANDTC-PC ngày 1/10/2019 của Tòa án nhân dân Tối cao nêu rõ: trong trường hợp bị hại không yêu cầu bồi thường hoặc nhận lại tài sản, tòa án không tuyên tịch thu mà chỉ ghi nhận ý kiến này trong bản án.
Tuy nhiên, theo nội dung kháng cáo, tòa sơ thẩm vẫn tuyên tịch thu số tiền mà phụ huynh đã đóng góp, dù những người này không có yêu cầu hoàn trả. Bị cáo cho rằng cách xử lý này là chưa phù hợp với hướng dẫn của cơ quan tư pháp cấp cao.
Liên quan đến tính chất vụ việc, bị cáo cũng cho rằng cần xem xét toàn diện mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Dẫn quy định tại Khoản 2 Điều 8 Bộ luật Hình sự, bị cáo cho rằng những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không bị coi là tội phạm. Vụ việc không gây thiệt hại thực tế, không có bị hại yêu cầu bồi thường, bản chất chỉ là sai sót quản lý nội bộ nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Từ các nội dung nêu trong đơn, bà Nguyễn Thị Bình đề nghị tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm và trả hồ sơ để điều tra lại vụ án.
Bị cáo cho biết sẽ tiếp tục cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ trong quá trình xét xử phúc thẩm nhằm làm rõ các nội dung còn tranh cãi.
Vụ án hiện đang thu hút sự quan tâm của dư luận, đặc biệt trong bối cảnh các tranh luận xoay quanh ranh giới giữa vi phạm hành chính và xử lý hình sự trong lĩnh vực giáo dục vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.











