Đà Nẵng 'số hóa sản phẩm', phát triển du lịch cộng đồng nông thôn miền núi

Trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện đại, Đà Nẵng đang tiên phong trong việc số hóa sản phẩm du lịch nhằm khai thác tiềm năng du lịch cộng đồng ở nông thôn miền núi. Đây là một phần trong chiến lược chuyển đổi số toàn diện, giúp đưa sản phẩm du lịch đến gần hơn với thị trường và tạo ra giá trị kinh tế bền vững cho cộng đồng địa phương…

Anh Bh’ling Miêng, Giám đốc hợp tác xã Nông dược và Du lịch Lộc Trời (xã Tây Giang), đang trồng cây "bảy lá một hoa" - một trong những cây dược liệu quý ở miền núi Đà Nẵng. Ảnh Ngô Anh Văn

Anh Bh’ling Miêng, Giám đốc hợp tác xã Nông dược và Du lịch Lộc Trời (xã Tây Giang), đang trồng cây "bảy lá một hoa" - một trong những cây dược liệu quý ở miền núi Đà Nẵng. Ảnh Ngô Anh Văn

Đà Nẵng đã và đang đẩy mạnh khai thác thế mạnh về du lịch cộng đồng và du lịch nông thôn miền núi, nơi có cảnh quan thiên nhiên đa dạng, phú với những cánh rừng nguyên sinh trùng điệp là hướng đi chiến lược của thành phố; trong đó chuyển đổi số đóng vai trò quan trọng trong việc số hóa điểm đến, sản phẩm, câu chuyện và hành trình, đưa sản phẩm đến gần hơn với thị trường khách du lịch trong nước và quốc tế.

Ngành Du lịch Đà Nẵng đã sớm nhận ra rằng du lịch cộng đồng, du lịch nông thôn miền núi và các chương trình tham quan, trải nghiệm tại nhà vườn, trang trại là hướng đi thiết thực. Việc phát triển kinh tế vườn và trang trại không chỉ dừng lại ở việc nâng cao năng suất nông sản mà còn cần khai thác giá trị từ cảnh quan, văn hóa và trải nghiệm nông thôn miền núi.

Thực tế đã xuất hiện những mô hình có khả năng thu hút khách và tạo doanh thu khá ổn định. Cụ thể như khu vực Hòa Vang có các mô hình như An Phú Farm, Banarita Glamping Farm, Vườn nho thung lũng Nam Yên; Xã Tiên Phước có hơn 1.768 ha kinh tế vườn, 1.317 hộ có vườn từ 1.000 m2 trở lên và 136 vườn đạt tiêu chí vườn mẫu. Xã Thạnh Bình có không gian vườn nhà, vườn đồi gắn với Làng cổ Lộc Yên hằng năm đón khoảng hơn 30.000 lượt khách. Xã Phú Ninh đã có 18 hộ tham gia trồng 1,4 ha sen phục vụ du lịch cộng đồng Đại An. Các khu vực khác Trà My, Trà Vân, Trà Linh có lợi thế về quế, dược liệu, văn hóa cộng đồng và sâm Ngọc Linh…

Bà Vũ Thị Bích Hậu, Phó Giám đốc Sở Nông & nghiệp Môi trường TP. Đà Nẵng (người áo đen đứng giữa), hướng dẫn nông dân chọn giống lúa năng suất cao đưa vào sản xuất. Ảnh Sở NN&MT Đà Nẵng.

Bà Vũ Thị Bích Hậu, Phó Giám đốc Sở Nông & nghiệp Môi trường TP. Đà Nẵng (người áo đen đứng giữa), hướng dẫn nông dân chọn giống lúa năng suất cao đưa vào sản xuất. Ảnh Sở NN&MT Đà Nẵng.

Với không gian phát triển rộng lớn từ đô thị đến miền núi, Đà Nẵng sở hữu hệ sinh thái sản xuất đa dạng như vườn cây, vùng rau, cây ăn quả, quế, dược liệu và sâm Ngọc Linh… Đây là nền tảng thuận lợi để phát triển du lịch nông nghiệp và các tour trải nghiệm gắn với sinh kế cộng đồng các dân tộc ở vùng nông thôn miền núi.

Những kết quả trên cho thấy, Đà Nẵng rất đa dạng tài nguyên. Vấn đề đặt ra là làm thế nào chuyển những tài nguyên sản xuất sẵn có thành sản phẩm du lịch có thể tổ chức, bán và khai thác phục vụ khách du lịch?

Ông Văn Bá Sơn, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng, cho rằng một khu vườn đẹp hay một trang trại có sản phẩm tốt chưa hẳn trở thành sản phẩm du lịch mà cần có câu chuyện, dịch vụ, hạ tầng, giá bán, thời gian phục vụ và doanh nghiệp kết nối thị trường…

Theo ông Sơn, để hiện thực hóa mục tiêu này, ngành du lịch Đà Nẵng đã đề xuất bốn nhóm giải pháp trọng tâm. Một là, cần chuẩn hóa nhà vườn và trang trại thành sản phẩm du lịch, với các tiêu chí rõ ràng về cảnh quan, vệ sinh, an toàn và khả năng phục vụ.

Hai là, số hóa sản phẩm để doanh nghiệp và du khách có thể “tìm – chọn – đặt mua” dịch vụ thông qua các hồ sơ số và mã QR. Qua đó, hình thành cơ sở dữ liệu dùng chung, kết nối nhà cung ứng với doanh nghiệp lữ hành, giúp doanh nghiệp tìm kiếm – lựa chọn – thiết kế tour, du khách tìm hiểu – đặt dịch vụ – trải nghiệm – đánh giá. Đồng thời, dữ liệu về nhu cầu và phản hồi của du khách được sử dụng để điều chỉnh sản phẩm, mùa vụ và phương thức phục vụ, hình thành chuỗi liên kết sản xuất – trải nghiệm – tour – tiêu thụ, tạo giá trị kinh tế thực tế cho cộng đồng và doanh nghiệp.

Ba là, đưa doanh nghiệp lữ hành tham gia ngay từ khâu thiết kế sản phẩm, chuyển từ cách làm “có điểm rồi mới tìm khách” sang “doanh  nghiệp lữ hành cùng địa phương, hợp tác xã và chủ thể sản xuất thiết kế sản phẩm ngay từ đầu”.

Bốn là, liên kết các điểm theo không gian và mùa vụ để hình thành tour thông qua việc lựa chọn những điểm bổ trợ cho nhau để hình thành tuyến có chủ đề, không nên phát triển quá nhiều điểm riêng lẻ.

Khi thực hiện đồng bộ các giải pháp này, mỗi nhà vườn, trang trại và vùng sản xuất không nhất thiết phải trở thành một điểm du lịch độc lập, mà có thể trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị du lịch. Nông sản không chỉ được bán tại nơi sản xuất mà còn được tiêu thụ thông qua trải nghiệm, ẩm thực, quà tặng và OCOP; người dân có thêm thu nhập từ dịch vụ; doanh nghiệp có thêm sản phẩm để khai thác; du khách có thêm những hành trình trải nghiệm mới.

Đó cũng chính là hướng chuyển từ “có tài nguyên” sang “có sản phẩm – có tuyến – có thị trường – có doanh thu và có khả năng khai thác”, góp phần phát triển du lịch cộng đồng, du lịch nông thôn miền núi gắn với sinh kế bền vững của người dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Chuyển đổi số đã và đang trở thành một công cụ đắc lực trong việc phát triển du lịch cộng đồng ở Đà Nẵng. Bằng cách kết hợp giữa tài nguyên sẵn có và công nghệ hiện đại, Đà Nẵng không chỉ tạo ra sản phẩm du lịch hấp dẫn mà còn xây dựng một chuỗi giá trị du lịch bền vững, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho cộng đồng địa phương nói chug và người dân miền núi nói riêng. Đây là minh chứng rõ ràng cho sự chuyển mình mạnh mẽ của ngành du lịch Đà Nẵng trong thời đại số hóa.

Ngô Anh Văn

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/da-nang-so-hoa-san-pham-phat-trien-du-lich-cong-dong-nong-thon-mien-nui.htm