Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga: Giám sát đến cùng để chấm dứt tình trạng 'nợ lời hứa, nợ kết luận'
Giám sát dựa trên kết quả cuối cùng đồng nghĩa với việc phải thiết lập một chu trình trách nhiệm khép kín, từ phát hiện đến kiến nghị, từ kiến nghị đến theo dõi và đánh giá lại. Qua đó, góp phần khắc phục tình trạng nợ lời hứa, nợ kết luận giám sát.

Quốc hội khóa XVI vừa trải qua kỳ họp đầu tiên của một nhiệm kỳ hành động. Tại phiên khai mạc kỳ họp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra thông điệp: Giám sát của Quốc hội phải được thực hiện theo hướng giám sát đến cùng, gắn chặt với trách nhiệm khắc phục và kết quả cuối cùng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đưa ra thông điệp: Giám sát của Quốc hội phải được thực hiện theo hướng giám sát đến cùng, gắn chặt với trách nhiệm khắc phục và kết quả cuối cùng. Ảnh: QH
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hải Phòng, nhìn nhận thực tiễn kinh tế - xã hội diễn biến từng ngày đòi hỏi hoạt động giám sát của Quốc hội phải nâng cấp về chất, từ giám sát tuân thủ sang giám sát hiệu quả, lấy kết quả phục vụ người dân và doanh nghiệp làm thước đo cuối cùng.
Giám sát song song, tháo gỡ vướng mắc ngay từ đầu
. Phóng viên: Đây là nhiệm kỳ thứ ba là đại biểu Quốc hội, bà đánh giá công tác giám sát của Quốc hội thời gian qua đã có những chuyển động, thay đổi như thế nào?
+ Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga: Tôi nhận thấy công tác giám sát của Quốc hội đã có rất nhiều chuyển biến, bắt đầu ngay từ khâu lựa chọn vấn đề. Trước đây, chúng ta thường chọn giám sát những chính sách, pháp luật đã đi vào cuộc sống một thời gian đủ độ dài và độ chín để đánh giá hiệu quả cũng như vướng mắc. Tuy nhiên, từ Quốc hội khóa XIV, XV, hoạt động này đã được đổi mới mạnh mẽ. Bên cạnh bám sát các vấn đề “nóng”, thiết thân đến phát triển kinh tế - xã hội được cử tri quan tâm, Quốc hội còn giám sát song song ngay khi các chính sách, công việc đang triển khai.
Điển hình như cuộc giám sát tối cao đối với các chương trình mục tiêu quốc gia hay việc thực hiện Nghị quyết 88 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông vừa qua. Qua giám sát, Quốc hội đã kịp thời đưa ra những kiến nghị quan trọng để điều chỉnh quá trình thực thi.
Đây là điểm rất mới, thể hiện cách giám sát từ sớm, từ xa, không đợi tất cả vướng mắc bộc lộ hết trong thực tiễn rồi mới xử lý. Việc phát hiện vướng mắc sớm để tháo gỡ ngay từ đầu giúp tiết kiệm thời gian, quá trình thực thi thông suốt và hiệu quả hơn.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; Thủ tướng Lê Minh Hưng tham dự kỳ họp thứ nhất. Ảnh: QH
Bên cạnh đó, Quốc hội còn đặt ra yêu cầu tái giám sát. Nghĩa là sau khi đưa ra các kiến nghị, Quốc hội tiếp tục theo dõi xem việc thực hiện các kiến nghị đó diễn ra như thế nào.
Một điều đáng mừng nữa là dù Quốc hội hoạt động theo nhiệm kỳ luật định nhưng công việc của Quốc hội, trong đó có hoạt động giám sát luôn mang tính kế thừa, không phân chia nhiệm kỳ. Những vấn đề được Quốc hội các khóa trước giám sát vẫn được khóa này tiếp tục theo dõi và đánh giá sự thực thi. Trong quá trình thảo luận và xem xét báo cáo, các đại biểu cùng các cơ quan của Quốc hội vẫn lật lại số liệu cũ, xem xét kết quả của các kỳ giám sát trước để có cái nhìn tổng thể, đầy đủ trong đánh giá của nhiệm kỳ này. Đó chính là tinh thần xuyên suốt, không phân chia nhiệm kỳ trong các công việc, đặc biệt là công tác giám sát.
3 áp lực lớn đòi hỏi phải tự đổi mới
. Từ yêu cầu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, bà nhìn nhận thế nào về tính cấp thiết của việc chuyển mạnh từ tư duy giám sát phát hiện sang giám sát dựa trên kết quả cuối cùng?
+ Tôi nhận thấy yêu cầu chuyển từ giám sát phát hiện sang giám sát đến cùng và dựa trên kết quả cuối cùng như chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không chỉ là một điều chỉnh về kỹ thuật giám sát, mà chính là sự thay đổi mang tính phương pháp luận trong hoạt động của Quốc hội.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hải Phòng. Ảnh: QH
Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện nhưng khoảng cách giữa những quy định và hiệu quả trong thực thi vẫn còn tồn tại, thậm chí có những lúc khoảng cách này còn khá xa. Nếu việc giám sát chỉ dừng ở phát hiện vấn đề, nêu lên những tồn tại mà không theo đến cùng quá trình khắc phục thì rất khó tạo ra chuyển biến thực chất trong hoạt động giám sát.
Chính vì thế, tôi cho rằng tính cấp thiết của yêu cầu này xuất phát từ ba áp lực lớn. Thứ nhất là từ thực tiễn phát triển. Khi đất nước đặt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững sẽ đòi hỏi bộ máy quản lý nhà nước phải vận hành hiệu lực, hiệu quả hơn.
Thứ hai là áp lực từ cử tri. Người dân không chỉ cần biết có vấn đề gì đang xảy ra mà quan trọng hơn, họ đòi hỏi vấn đề này bao giờ được giải quyết và ai sẽ chịu trách nhiệm nếu không giải quyết được. Đó là yêu cầu rất cao.
Thứ ba là yêu cầu tự đổi mới của Quốc hội. Điều này nhằm khẳng định vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, không chỉ trong vấn đề lập pháp mà cả trong kiểm soát quyền lực.
Chính vì vậy, giám sát dựa trên kết quả cuối cùng cũng đồng nghĩa với việc phải thiết lập một chu trình trách nhiệm khép kín, từ phát hiện đến kiến nghị, từ kiến nghị đến theo dõi và đến đánh giá lại. Khi đó, mỗi kết luận giám sát không còn là điểm kết thúc, mà lại là điểm khởi đầu của một quá trình mới, buộc các cơ quan chịu sự giám sát của Quốc hội phải hành động. Điều này sẽ góp phần khắc phục tình trạng nợ lời hứa, nợ kết luận giám sát đã từng xảy ra.
Quan trọng hơn, đây chính là bước chuyển để nâng tầm giám sát của Quốc hội từ việc giám sát tuân thủ sang giám sát hiệu quả, lấy kết quả phục vụ người dân, doanh nghiệp làm thước đo cuối cùng.

Các đại biểu tham dự Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI. Ảnh: QH
Liên thông dữ liệu để nâng cao hiệu quả giám sát
. Thưa bà, để hiện thực hóa tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước về một nhiệm kỳ hành động, công tác giám sát của Quốc hội thời gian tới cần tập trung đổi mới, hoàn thiện những trọng tâm nào?
+ Mỗi giai đoạn phát triển luôn có yêu cầu mới đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện nội dung giám sát theo kịp thực tiễn.
Để hiện thực hóa tinh thần giám sát đến cùng, về phương thức giám sát, Quốc hội cần chú ý thiết kế theo hướng cụ thể hơn, định lượng hơn và liên tục hơn. Bắt đầu từ khâu lựa chọn nội dung giám sát, có thể thu hẹp phạm vi nhưng đào sâu vấn đề để tránh dàn trải. Mỗi chuyên đề giám sát phải xác định rõ các chỉ số đầu ra, kết quả cuối cùng gắn với các mốc thời gian cụ thể.
Đồng thời, cần tăng cường hậu giám sát. Sau mỗi kết luận giám sát tối cao hoặc các phiên chất vấn, không nên khép lại mà phải tiếp tục có các phiên giải trình định kỳ, báo cáo tiến độ thực hiện, báo cáo việc thực hiện kết luận giám sát. Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các Ủy ban của Quốc hội cần theo dõi đến khi vấn đề được xử lý dứt điểm. Thậm chí, nếu thấy vấn đề chưa xử lý dứt điểm thì phải tiếp tục tổ chức tái giám sát.
Một điểm nữa là cần phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và xây dựng hệ thống theo dõi các cam kết của các bộ, ngành, địa phương theo thời gian thực và có thể công khai ở mức độ phù hợp để cả Quốc hội, đại biểu Quốc hội và cử tri cùng giám sát.
Đặc biệt, cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác giám sát. Khi đó, công tác giám sát sẽ bớt đi rất nhiều thời gian, công sức và hiệu quả cao hơn. Cụ thể, cần hoàn thiện việc liên thông dữ liệu giữa các ngành và công tác thu thập, xử lý dữ liệu. Hiện nay, do dữ liệu chưa liên thông, chúng ta vẫn phải tổ chức rất nhiều đoàn giám sát, làm việc với nhiều bộ, ngành, địa phương khác nhau để thu thập tình hình, số liệu.
Nếu có dữ liệu liên thông, công tác giám sát sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian vật chất, hiệu quả sâu sắc hơn và số liệu thống nhất hơn.
Để giám sát hiệu quả, phải quan tâm hơn nữa đến chính sách dành cho giám sát, mời chuyên gia, nhà khoa học tham gia đoàn giám sát. Hiện nay, chính sách cho giám sát vẫn còn khá khiêm tốn nên đôi khi rất khó mời được các chuyên gia giỏi, đầu ngành tham gia làm chuyên gia tư vấn. Từ giám sát tối cao của Quốc hội đến giám sát của các Ủy ban và các đoàn đại biểu đều rất cần sự có mặt của họ. Các chuyên gia sẽ hỗ trợ chỉ ra những vấn đề nghiên cứu chuyên sâu.

Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI mở đầu cho nhiệm kỳ hành động của Quốc hội. Ảnh: QH
Lượng hóa lời hứa và đánh giá tín nhiệm
. Việc giám sát đến cùng sẽ khó thực hiện nếu như thiếu đi chế tài đủ mạnh để bảo đảm cho sự thực thi, thưa bà?
+ Tôi rất thống nhất với quan điểm này. Khi các cơ quan chậm trễ hoặc không hoàn thành cam kết theo thời hạn, Quốc hội cần kích hoạt đồng thời nhiều tầng công cụ khác nhau.
Về công cụ nghị trường, Quốc hội có thể tổ chức các phiên chất vấn chuyên đề, giải trình lại để làm rõ nguyên nhân chậm trễ và trách nhiệm của các cá nhân liên quan. Việc "điểm danh" cụ thể trên nghị trường thực sự là một áp lực rất lớn, bởi điều này gắn trực tiếp với uy tín chính trị của người đứng đầu.
Về công cụ đánh giá tín nhiệm, theo luật định, Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu, phê chuẩn. Những trường hợp không hoàn thành cam kết hay để sự chậm trễ kéo dài cần phải được phản ánh rõ trong kết quả lấy phiếu. Đây là cơ chế gắn kết trực tiếp giữa lời hứa và hệ quả chính trị.
Về công cụ pháp lý, Quốc hội có thể yêu cầu Chính phủ, các cơ quan liên quan rà soát trách nhiệm và xử lý kỷ luật hành chính theo quy định. Thậm chí, nếu có dấu hiệu vi phạm thì phải chuyển cơ quan có thẩm quyền xem xét. Trong quá trình hoàn thiện pháp luật, Quốc hội cũng cần nghiên cứu, bổ sung quy định rõ hơn về trách nhiệm giải trình và chế tài đối với hành vi thực hiện không đầy đủ các kết luận giám sát.
Về công cụ giám sát xã hội, hoạt động giám sát không chỉ dừng lại ở chức năng của Quốc hội mà cần phát huy tối đa vai trò của cử tri. Khi cam kết và tiến độ thực hiện của các cơ quan, địa phương được công khai minh bạch, áp lực dư luận sẽ trở thành một dạng chế tài mềm nhưng vô cùng hiệu quả.
Tôi tin rằng nếu các công cụ trên được vận hành đồng bộ, tình trạng đùn đẩy trách nhiệm sẽ dần bị thu hẹp, từ đó giúp công tác giám sát của Quốc hội thực sự có sức nặng và hiệu lực cao trong thực tiễn.

Các đại biểu tham dự kỳ họp. Ảnh: QH
. Vậy làm thế nào để mọi lời hứa, cam kết trên nghị trường không chỉ dừng lại ở lời nói mà thực sự trở thành trách nhiệm, nghĩa vụ bắt buộc phải thực thi?
+ Để làm được điều này, tôi cho rằng cần thiết lập cơ chế lượng hóa trách nhiệm ngay từ đầu. Mỗi lời hứa, cam kết của các tư lệnh ngành phải được chuyển hóa thành những chỉ tiêu cụ thể, có thể đo lường, kiểm chứng và so sánh.
Trong các phiên chất vấn, Quốc hội cần yêu cầu người đăng đàn không thể chỉ nêu giải pháp chung chung mà phải xác định rõ là làm gì, trong bao lâu và đạt kết quả ở mức độ nào. Ví dụ, thay vì cam kết sắp tới sẽ giảm ùn tắc giao thông, cần nêu rõ giảm bao nhiêu phần trăm thời gian ùn tắc tại các điểm nóng và hoàn thành trong thời hạn bao lâu. Đây chính là cơ sở cốt lõi để giám sát lại. Ngược lại, nếu lời hứa không rõ thời gian, thiếu định lượng kết quả và giải pháp thì rất khó để Quốc hội giám sát chặt chẽ.
Song song đó, cần xây dựng một hệ thống chỉ số đánh giá việc thực thi cam kết gắn với từng lĩnh vực quản lý. Các chỉ số này đòi hỏi sự thống nhất, minh bạch và phải được cập nhật định kỳ. Quốc hội có thể yêu cầu Chính phủ báo cáo tiến độ dựa trên hệ thống chỉ số này, thay vì cách báo cáo mô tả chung chung như truyền thống.
Đặc biệt, kết quả thực hiện cam kết phải được liên thông trực tiếp với việc đánh giá tín nhiệm. Khi nói đi đôi với làm trở thành tiêu chí cốt lõi trong lấy phiếu tín nhiệm, mỗi tư lệnh ngành sẽ phải cân nhắc rất kỹ lưỡng trước khi đưa ra lời hứa và quyết liệt hơn trong khâu thực thi.
Chúng ta cũng cần thiết lập cơ chế theo dõi độc lập, có thể thông qua các cơ quan của Quốc hội hoặc kết hợp với các tổ chức nghiên cứu. Cơ chế này sẽ đảm bảo việc đánh giá luôn khách quan, chuẩn xác về mặt số liệu, từ đó lượng hóa minh bạch tiến độ thực hiện và chỉ rõ trách nhiệm cụ thể của từng cá nhân.
. Xin cảm ơn bà.
Dám đào sâu tận cùng vấn đề
Để góp phần vào hoạt động giám sát của Quốc hội ngày một chuyên nghiệp và hiệu quả hơn, yếu tố then chốt đối với mỗi đại biểu là bản lĩnh và tinh thần trách nhiệm.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga
Các đại biểu phải thực sự độc lập trong tư duy, dám đào sâu đến tận cùng vấn đề và không né tránh những nội dung phức tạp.
Muốn như vậy thì mỗi đại biểu Quốc hội cần chuẩn bị kỹ lưỡng dữ liệu, bằng chứng cụ thể và các kiến thức chuyên ngành khi giám sát. Khi mỗi đại biểu ý thức rất rõ rằng mình đang đại diện cho tiếng nói, quyền lợi của cử tri, tôi nghĩ rằng áp lực trách nhiệm sẽ giúp đại biểu vượt qua rào cản về tâm lý để có những kiến nghị đúng đắn, sâu sắc trong quá trình giám sát.
Đại biểu NGUYỄN THỊ VIỆT NGA, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hải Phòng











