Đại biểu Quốc hội "hiến kế" thúc đẩy kinh tế - xã hội tăng trưởng ổn định, bền vững
Đánh giá cao sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, linh hoạt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa ổn định kinh tế vĩ mô, các đại biểu Quốc hội tập trung phân tích và đề xuất nhiều giải pháp thiết thực, cụ thể nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.
Chiều 30/10, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, Quốc hội họp phiên toàn thể tại Hội trường, thảo luận về các nội dung: (1) Tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027; (2) Tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2026, dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2027; tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư công năm 2026 và dự kiến kế hoạch đầu tư công năm 2027; (3) Quyết toán ngân sách nhà nước năm 2025; (4) Việc tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 66/2013/QH13 ngày 29/11/2013 của Quốc hội và kết thúc đầu tư xây dựng dự án đường Hồ Chí Minh quy mô hai làn xe.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Chủ tịch UBTW MTTQVN Bùi Thị Minh Hoài cùng các đại biểu tại phiên họp. (Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội)
Đối với tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027, các đại biểu đánh giá cao sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, linh hoạt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa ổn định kinh tế vĩ mô.
Bên cạnh đó, các đại biểu tập trung phân tích và đề xuất nhiều giải pháp thiết thực, cụ thể nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội như: đánh giá về tình hình và mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số; công nghệ sinh học tổng hợp trong lĩnh vực nông nghiệp; chính sách bảo đảm an sinh xã hội; chính sách về văn hóa, giáo dục đối với vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo; việc thực hiện các mục tiêu đề ra; khai thác không gian phát triển và liên kết vùng; điểm nghẽn và các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long; hoàn thiện thể chế, tháo gỡ điểm nghẽn về kinh tế; đẩy nhanh phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đẩy mạnh đầu tư hạ tầng logistics, tăng cường vai trò đối ngoại kinh tế, đẩy mạnh ngoại giao công nghệ, ngoại giao kinh tế và cải cách thủ tục hành chính theo hướng minh bạch; thực hiện phân cấp, phân quyền theo lộ trình phù hợp với năng lực thực thi của cấp tỉnh, cấp xã; tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy cấp xã phù hợp với đặc điểm từng địa bàn; xây dựng chế độ tiền lương đối với viên chức cấp xã; đảm bảo điều kiện chuyển đổi số ở cấp cơ sở; trách nhiệm của người đứng đầu; nâng cao vai trò của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu…

Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng, Đoàn ĐBQH Thành phố Hải Phòng tại phiên thảo luận, chiều 30/10. (Ảnh: Quang Vinh)
Thể chế phải đi trước mở đường, tạo động lực cho phát triển đất nước
Phát biểu tại phiên thảo luận, đại biểu Lã Thanh Tân, Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng tán thành với Báo cáo của Chính phủ về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, phương hướng, nhiệm vụ năm 2027; đồng tình với những đánh giá, kiến nghị trong Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính, cũng như các nhóm giải pháp Chính phủ đề ra cho năm 2027, trong đó có nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện thể chế.
Bên cạnh đó, đại biểu cho rằng cần quan tâm đến vấn đề mà theo đại biểu, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển trong giai đoạn tới: làm thế nào để thể chế thực sự trở thành động lực phát triển.
"Một nền kinh tế có thể có nhiều tiềm năng, có nguồn lực, có doanh nghiệp và có khát vọng vươn lên, nhưng những tiềm năng ấy có được chuyển hóa thành tăng trưởng hay không, các nguồn lực có được khơi thông hay không, phụ thuộc rất lớn vào chất lượng thể chế", đại biểu Lã Thanh Tân nhấn mạnh và cho rằng, triển khai nhiệm vụ hoàn thiện thể chế năm 2027 cần được đặt trong tổng thể thực hiện Kết luận số 09-KL/TW ngày 10 tháng 3 năm 2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam. Đây phải là cơ hội để tạo ra một bước chuyển có tính căn bản về chất lượng thể chế.
Trên quan điểm đó, đại biểu đề xuất ba nội dung.
Một là, phải chuyển từ tư duy sửa từng quy định sang tư duy xử lý những điểm nghẽn của cả hệ thống pháp luật. Đề nghị Chính phủ tổ chức rà soát theo các chuỗi quan hệ pháp lý liên ngành, lựa chọn những lĩnh vực đang có tác động lớn đến huy động nguồn lực và tăng trưởng để xử lý trước. Với mỗi nhóm vấn đề, cần xác định rõ quy định bất cập, nguyên nhân, phương án xử lý, cơ quan chịu trách nhiệm và thời hạn hoàn thành.
Đặc biệt, cần triển khai thực chất định hướng của Kết luận số 09-KL/TW về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật. Có những lĩnh vực cần giữ các luật chuyên ngành độc lập nhưng phải làm rõ ranh giới điều chỉnh và mối quan hệ giữa chúng; có những lĩnh vực cần sửa đổi đồng bộ; cũng có thể có những nhóm quy định đủ điều kiện để nghiên cứu tích hợp, hợp nhất. Điều này sẽ khắc phục được sự phân mảnh và chồng chéo, đồng thời bảo đảm tính ổn định, dễ hiểu và dễ thực hiện của pháp luật.
Hai là, phải chuyển sang tư duy kiến tạo khuôn khổ pháp lý cho những động lực phát triển mới. Trí tuệ nhân tạo, kinh tế dữ liệu, công nghệ số và các mô hình kinh doanh mới đang làm thay đổi phương thức sản xuất, kinh doanh và cạnh tranh giữa các quốc gia. Trong bối cảnh đó, nếu pháp luật chỉ phản ứng sau khi thực tiễn đã phát sinh đầy đủ vấn đề thì chúng ta có nguy cơ bỏ lỡ cơ hội phát triển.
Đại biểu đề nghị Chính phủ tiếp tục chủ động nhận diện những lĩnh vực có tiềm năng trở thành động lực tăng trưởng mới để xây dựng khuôn khổ pháp lý từ sớm. Pháp luật cần tạo ra không gian cho đổi mới sáng tạo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, kiểm soát được rủi ro, nhưng cũng phải đủ linh hoạt để những mô hình mới có cơ hội hình thành và phát triển.
Đối với những lĩnh vực chưa có đủ cơ sở thực tiễn để quy định đầy đủ, cần nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, xác định rõ phạm vi, thời hạn, trách nhiệm giám sát và giới hạn rủi ro. Đồng thời, điều cần quan tâm là nâng cao chất lượng đánh giá tác động chính sách, nhất là tác động đến chi phí tuân thủ, khả năng gia nhập thị trường và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Ba là, cần chuyển sang tư duy chịu trách nhiệm về kết quả thực thi pháp luật. Theo đại biểu, thực tế cho thấy, một chính sách dù được thiết kế tốt vẫn có thể không đạt mục tiêu nếu thiếu nguồn lực, thiếu hướng dẫn hoặc thiếu sự phối hợp trong tổ chức thực hiện.
Do đó, đại biểu đề nghị Chính phủ gắn trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo với toàn bộ vòng đời của chính sách, từ đánh giá tác động, tổ chức thực hiện đến kiểm tra và đánh giá sau ban hành. Khi phân cấp, phân quyền đề nghị cần đảm bảo thẩm quyền đi đôi với nguồn lực, nhân lực và điều kiện thực hiện. Khi ban hành quy định mới phải tính đến khả năng thực thi của chính quyền địa phương và chi phí mà người dân, doanh nghiệp phải tuân thủ.
Đặc biệt, cần xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả thể chế bằng những chỉ tiêu cụ thể: thời gian và chi phí thực hiện thủ tục hành chính giảm được bao nhiêu; bao nhiêu điểm nghẽn pháp lý được xử lý; bao nhiêu dự án, nguồn lực được khơi thông; mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp được cải thiện như thế nào. Kết quả đánh giá phải trở thành căn cứ để điều chỉnh chính sách và xem xét trách nhiệm của cơ quan thực thi.

Đại biểu Lã Thanh Tân, Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng đề xuất ba nội dung để thể chế phải đi trước mở đường, tạo động lực cho phát triển đất nước. (Ảnh: Quang Vinh)
Cùng quan tâm vấn đề tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, đại biểu Hà Đức Minh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai cho rằng bên cạnh những thành tựu đạt được, khu vực doanh nghiệp trong nước vẫn đang phải đối mặt với không ít khó khăn nội tại. Số lượng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường còn cao; hoạt động xuất nhập khẩu phụ thuộc lớn vào khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), trong khi các đầu tàu kinh tế đang chịu nhiều áp lực về hạ tầng và môi trường.
Từ thực tế đó, đại biểu nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục đổi mới tư duy quản lý, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, lấy kết quả phục vụ người dân, doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước. Đây là chuyển biến quan trọng trong tư duy quản lý của Trung ương, cần được cụ thể hóa đồng bộ trong quá trình xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.
Đại biểu kiến nghị Quốc hội, Chính phủ tiếp tục rà soát tổng thể hệ thống pháp luật, nhất là các văn bản hướng dẫn thi hành, nhằm cắt giảm triệt để những thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh chồng chéo, mâu thuẫn. Khẳng định doanh nghiệp là động lực quan trọng đối với tăng trưởng dài hạn, đại biểu Hà Đức Minh đề nghị đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng thực chất, minh bạch, rút ngắn thời gian và giảm chi phí tuân thủ ở tất cả các khâu, các cấp; đồng thời tạo điều kiện bình đẳng, thuận lợi để doanh nghiệp tiếp cận các nguồn lực then chốt như đất đai, khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và mở rộng thị trường.

Đại biểu Hà Đức Minh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai phát biểu thảo luận. (Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội)
Khơi thông các kênh dẫn vốn dài hạn, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh
Bên cạnh công tác thể chế, nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng, việc bảo đảm khả năng tiếp cận nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp mở rộng đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Đánh giá bối cảnh kinh tế vĩ mô trong năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, với GDP 9 tháng tăng 9,01%, xuất khẩu tăng 24,5%, đại biểu Lê Hoàng Anh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai, đặt vấn đề: “Lấy vốn dài hạn ở đâu để đi được dài?”. Theo đại biểu, nền kinh tế hiện vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, với dư nợ tương đương khoảng 155% GDP. Trong khi đó, gần 80% vốn huy động có kỳ hạn dưới 12 tháng, nhưng một nửa dư nợ tín dụng lại là các khoản vay trung và dài hạn. Đại biểu cũng chỉ ra nghịch lý khi tiền gửi dân cư vượt 11,2 triệu tỷ đồng, người dân nắm giữ khoảng 500 tấn vàng, tương đương khoảng 12% GDP, nhưng quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp mới đạt 11% GDP, chưa đạt mục tiêu 20% vào năm 2025. Việc thiếu các kênh dẫn vốn trong nước khiến nhiều doanh nghiệp công nghệ Việt Nam phải thành lập công ty mẹ ở nước ngoài để huy động vốn, dẫn đến giá trị gia tăng và quyền quyết định bị ghi nhận ở nước ngoài.
Trên cơ sở đó, đại biểu Lê Hoàng Anh đề xuất ba hướng giải pháp chiến lược nhằm mở rộng các kênh dẫn vốn, khơi thông nguồn lực trong nước.
Thứ nhất, cho vay dựa trên dữ liệu dòng tiền. Cụ thể hóa Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, cho phép các ngân hàng sử dụng dữ liệu hóa đơn điện tử, dữ liệu thuế, xuất nhập khẩu để đánh giá năng lực tài chính, khả năng trả nợ của doanh nghiệp, thay vì chủ yếu dựa vào tài sản thế chấp là đất đai.
Thứ hai, giữ vốn chủ sở hữu trong nước. Đại biểu đề nghị sớm ban hành cơ chế để các công ty holding tại Trung tâm Tài chính quốc tế theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 của Quốc hội có thể đầu tư thông suốt về trong nước; hỗ trợ doanh nghiệp đưa công ty mẹ từ nước ngoài về Việt Nam với chi phí thuế hợp lý; đồng thời vận hành thực chất Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia.
Thứ ba, kết nối nguồn tiết kiệm trong dân cư với nhu cầu vốn của doanh nghiệp thông qua phát triển quỹ hưu trí tự nguyện, quỹ mở và nghiên cứu thí điểm chứng chỉ vàng; đồng thời bổ sung chỉ tiêu theo dõi quy mô trái phiếu doanh nghiệp trên GDP để có cơ sở đánh giá sự phát triển của thị trường vốn.

Đại biểu Lê Hoàng Anh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai đề xuất ba hướng giải pháp chiến lược nhằm mở rộng các kênh dẫn vốn, khơi thông nguồn lực trong nước. (Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội)
Liên quan đến đề xuất giải pháp khơi thông dòng vốn tín dụng, bảo đảm nguồn lực tài chính được phân bổ hiệu quả, đúng địa chỉ và đáp ứng nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, đại biểu Trần Quốc Tuấn, Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long dẫn số liệu tại Báo cáo thẩm tra cho thấy lãi suất bình quân các khoản vay mới khoảng 9,12%/năm, tăng 1,03 điểm phần trăm so với cuối năm 2025; tăng trưởng tín dụng 9 tháng đạt 11,7%, cao hơn mức tăng 10,7% của huy động vốn. Tỷ lệ tín dụng/GDP ước khoảng 155%, cho thấy nền kinh tế đang phụ thuộc đáng kể vào tín dụng ngân hàng.
Từ thực tế đó, đại biểu đề nghị Chính phủ tiếp tục chỉ đạo, giám sát sát sao diễn biến tăng trưởng tín dụng, đồng thời đánh giá thực chất chất lượng và hiệu quả sử dụng vốn. Theo đại biểu, cần làm rõ nguồn vốn tín dụng tăng thêm đã được đưa vào những lĩnh vực nào, tạo ra năng lực sản xuất gì và có hình thành dòng tiền để trả nợ hay không. Bởi lẽ, một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh trong ngắn hạn nhờ vốn vay, nhưng tăng trưởng bền vững phải dựa trên những dự án tạo ra sản phẩm, nâng cao năng suất và hình thành dòng tiền thực.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, đại biểu đề nghị Chính phủ tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng triển khai những giải pháp hiệu quả hơn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn, trong đó có mở rộng cơ chế bảo lãnh tín dụng, xem xét cả dòng tiền, hợp đồng và đơn hàng trong quá trình thẩm định cho vay.
Đồng thời, cần thực hiện thanh toán đúng hạn các khoản hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT), không để thời gian hoàn thuế kéo dài, gây ảnh hưởng đến dòng tiền của doanh nghiệp. Đại biểu nhấn mạnh yêu cầu tập trung hướng dòng vốn vào các doanh nghiệp có phương án sản xuất, kinh doanh khả thi, bảo đảm các khoản vay thực sự tạo ra sản phẩm, việc làm và nguồn thu để trả nợ...
Những ý kiến thảo luận của các đại biểu Quốc hội cho thấy những vấn đề được nhận diện và quan tâm nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tập trung vào việc tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, khơi thông các nguồn lực, tạo động lực phát triển doanh nghiệp bền vững...
