Đại biểu Trần Lan Phương: Đề nghị làm rõ cơ chế điều chỉnh tỷ lệ an toàn của ngân hàng
Chiều 6/8, góp ý dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng, đại biểu Trần Lan Phương (đoàn Hải Phòng), Phó Chủ tịch Thường trực Hội LHPN Việt Nam, nhất trí cao với sự cần thiết phải sửa Luật, đồng thời đề xuất một số ý kiến nhằm làm rõ hơn cơ chế điều chỉnh tỷ lệ an toàn của tổ chức tín dụng, hoàn thiện các quy định về ngoại hối, phòng chống rửa tiền và quản lý tài sản bảo đảm trái phiếu doanh nghiệp theo hướng minh bạch, khả thi.

Đại biểu Trần Lan Phương (đoàn Hải Phòng), Phó Chủ tịch Thường trực Hội LHPN Việt Nam, góp ý dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng
Cần làm rõ nguyên tắc sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam
Về Điều 31a quy định nguyên tắc sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam, đại biểu Trần Lan Phương thống nhất với mục tiêu hạn chế tình trạng ngoại tệ hóa, củng cố vị thế của đồng Việt Nam và nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ.
Tuy nhiên, bà cho rằng, cần phân biệt rõ giữa việc sử dụng ngoại hối làm phương tiện thanh toán với việc hiển thị giá quy đổi hoặc sử dụng ngoại tệ làm ăn cứ tham chiếu trong một số giao dịch có yếu tố nước ngoài.
Theo đại biểu Trần Lan Phương, việc ghi hoặc tham chiếu mức giá bằng ngoại tệ "chưa hẳn đồng nghĩa với việc các bên thanh toán bằng ngoại tệ". Nếu quy định không rõ có thể dẫn đến cách hiểu rằng hợp đồng có ghi giá hoặc tham chiếu ngoại tệ cũng vi phạm điều cấm, dù nghĩa vụ thanh toán cuối cùng được thực hiện bằng đồng Việt Nam.
Điều này, theo bà Trần Lan Phương, có thể gây vướng mắc cho hoạt động xuất nhập khẩu, hàng không, logistics, thương mại điện tử xuyên biên giới và các giao dịch tại trung tâm tài chính quốc tế.
Đại biểu Trần Lan Phương đề nghị luật làm rõ nguyên tắc phân biệt giữa thanh toán bằng ngoại hối với báo giá, hiển thị giá quy đổi hoặc tham chiếu ngoại tệ; đồng thời xác định rõ nội hàm của cụm từ "các hình thức tương tự khác", tránh cách hiểu và áp dụng khác nhau.
Bà nhấn mạnh: "Chỉ khi ngoại hối được dùng thực tế để chuyển giao giá trị và hoàn thành nghĩa vụ trả tiền thì mới được coi là thanh toán bằng ngoại hối".
Bên cạnh đó, đại biểu Trần Lan Phương cũng đề nghị xử lý dứt điểm mối quan hệ giữa Điều 31a của dự thảo với Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối, thống nhất về chủ thể áp dụng và thẩm quyền quy định các trường hợp ngoại lệ, tránh phát sinh cách hiểu khác nhau.
Điều 22 hiện xác định chủ thể áp dụng là người cư trú, người không cư trú và giao Ngân hàng Nhà nước quy định các trường hợp ngoại lệ; trong khi Điều 31a không xác định cụ thể chủ thể và giao trực tiếp cho Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định.

Phiên thảo luận tổ chiều 6/8 của tổ 11 (đoàn TP Hải Phòng và Quảng Ngãi)
Quy định về tỷ lệ an toàn cần chặt chẽ, theo hướng minh bạch nguyên tắc điều chỉnh
Đối với quy định bổ sung điểm h khoản 2 Điều 59 Luật Ngân hàng Nhà nước, cho phép áp dụng một hoặc một số tỷ lệ an toàn khác với mức quy định nhằm thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời yêu cầu đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng xây dựng và thực hiện lộ trình để trở lại mức quy định.
Đại biểu Trần Lan Phương cho biết, theo pháp luật hiện hành, tổ chức tín dụng phải duy trì một hệ thống các tỷ lệ bảo đảm an toàn như: tỷ lệ khả năng chi trả, tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn (SMLR), tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) và các tỷ lệ khác. Luật Các tổ chức tín dụng giao Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định mức cụ thể phù hợp với từng loại hình tổ chức tính dụng.
Như vậy, cơ chế hiện hành đã cho phép Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh mặt bằng tỷ lệ an toàn chung đối với từng loại hình tổ chức tín dụng, phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế tại từng thời điểm.
Trong khi đó, bà Trần Lan Phương cho hay, điểm h khoản 2 Điều 59 của dự thảo lại cho phép áp dụng một hoặc một số tỷ lệ an toàn khác với mức quy định đối với đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Theo bà, dự thảo chưa xác định tỷ lệ "khác" là cao hơn, thấp hơn hay bao gồm cả 2 trường hợp; áp dụng đối với loại tỷ lệ nào, tổ chức tín dụng nào, trong thời hạn bao lâu và do cơ quan nào quyết định.
Bà Trần Lan Phương phân tích, nếu chỉ áp dụng tỷ lệ cao hơn đối với tổ chức tín dụng có rủi ro lớn thì phù hợp với nguyên tắc giám sát trên cơ sở rủi ro. Nhưng nếu cho phép áp dụng mức thấp hơn chuẩn chung thì đây là cơ chế mới làm tăng mức độ chấp nhận rủi ro của tổ chức tín dụng.
Theo bà, cụm từ "để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội" hiện còn quá rộng, bởi hầu hết hoạt động cấp tín dụng đều có thể được giải thích là phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
"Nếu không có tiêu chí cụ thể, quy định có thể tạo sự thiếu bình đẳng giữa các tổ chức tín dụng và chuyển rủi ro của một chương trình, dự án sang ngân hàng, người gửi tiền và toàn hệ thống", đại biểu Trần Lan Phương nêu.
Vì vậy, bà đề nghị cần tách thành một khoản riêng, chỉ áp dụng trong trường hợp thật sự cần thiết vì lợi ích quốc gia, gắn với các chương trình, dự án quan trọng theo chủ trương của Đảng, Nhà nước.
Đồng thời, luật cần quy định rõ loại tỷ lệ được điều chỉnh, mức điều chỉnh, tổ chức tín dụng được áp dụng, thời hạn tối đa, biện pháp kiểm soát và bù đắp rủi ro cũng như lộ trình quay trở lại mức an toàn thông thường; không áp dụng đối với tổ chức tín dụng yếu kém, đang bị can thiệp sớm hoặc có nguy cơ mất an toàn.
Không để quy định về phòng, chống rửa tiền ảnh hướng tới việc tiếp cận dịch vụ tài chính
Đối với các quy định sửa đổi của Luật Phòng, chống rửa tiền, đại biểu Trần Lan Phương tán thành việc nội luật hóa các khuyến nghị của Lực lượng đặc nhiệm tài chính (FATF) nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống rửa tiền và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính.
Về chủ sở hữu hưởng lợi, bà đồng tình với việc sửa đổi theo hướng xác định cá nhân cuối cùng thực sự sở hữu, kiểm soát, chi phối hoặc hưởng lợi từ giao dịch. Tuy nhiên, tiêu chí xác định phải rõ ràng, khả thi, thống nhất với pháp luật về doanh nghiệp; bao quát cả sở hữu trực tiếp, gián tiếp và quyền kiểm soát bằng các phương thức khác.
Đại biểu Trần Lan Phương cũng lưu ý không nên yêu cầu tổ chức tín dụng thu thập, xác minh thông tin vượt quá khả năng hợp lý, nhất là khi chưa có cơ sở dữ liệu đầy đủ và cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước.
Đối với nhận biết khách hàng, bà đồng tình với việc sử dụng căn cước điện tử, tài khoản định danh điện tử và dữ liệu sinh trắc học, song cho rằng không nên phụ thuộc tuyệt đối vào một cơ sở dữ liệu hoặc một phương thức xác thực duy nhất.
Theo đại biểu, cần có phương thức xác minh bổ sung có độ tin cậy tương đương đối với người cao tuổi, người khuyết tật, người hạn chế kỹ năng số, người không có thiết bị phù hợp hoặc sinh sống tại địa bàn có hạ tầng công nghệ chưa ổn định.
Từ thực tiễn tài chính vi mô, đại biểu Trần Lan Phương đề nghị làm rõ nghĩa vụ phòng, chống rửa tiền đối với các chương trình, dự án tài chính vi mô hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký; việc áp dụng phải dựa trên mức độ rủi ro, phù hợp với quy mô, sản phẩm và phương thức hoạt động, tránh áp dụng máy móc quy trình của ngân hàng thương mại đối với các khoản vay nhỏ phục vụ phụ nữ có thu nhập thấp, người dân nông thôn, miền núi và vùng khó khăn.
Đối với tài sản mã hóa, đại biểu tán thành việc bổ sung tổ chức được cấp phép cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa vào đối tượng báo cáo và bổ sung các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ. Tuy nhiên, bà đề nghị làm rõ đây chỉ là quy định phục vụ nhận diện, phòng ngừa và xử lý rủi ro rửa tiền, không đồng nghĩa với việc xác lập địa vị pháp lý hoặc công nhận tài sản mã hóa là phương tiện thanh toán.
Cần quy định rõ trách nhiệm của ngân hàng khi quản lý tài sản bảo đảm trái phiếu doanh nghiệp
Đối với quy định bổ sung hoạt động đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp tại Điều 114 Luật Các tổ chức tín dụng, đại biểu Trần Lan Phương tán thành vì thị trường đang có nhu cầu về một tổ chức chuyên nghiệp quản lý tài sản bảo đảm.
Tuy nhiên, bà nhấn mạnh cần quy định rõ ngân hàng làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm không đồng nghĩa với việc ngân hàng bảo lãnh phát hành hoặc bảo lãnh nghĩa vụ thanh toán của doanh nghiệp, trừ trường hợp có cam kết bảo lãnh riêng theo quy định pháp luật.
"Nếu không công bố rõ, nhà đầu tư cá nhân rất dễ hiểu rằng trái phiếu có ngân hàng quản lý tài sản bảo đảm thì đương nhiên an toàn hoặc ngân hàng sẽ trả nợ thay khi doanh nghiệp phát hành mất khả năng thanh toán", đại biểu Trần Lan Phương nêu.
Bà đề nghị luật làm rõ địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của ngân hàng; trách nhiệm kiểm tra tình trạng pháp lý, quản lý hồ sơ, theo dõi biến động của tài sản bảo đảm và nghĩa vụ thông báo khi tài sản bị tranh chấp, giảm giá trị hoặc không còn đủ điều kiện bảo đảm.
Đồng thời, cần có cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng đồng thời là chủ nợ, tổ chức tư vấn, tổ chức phân phối trái phiếu hoặc có quan hệ tín dụng với doanh nghiệp phát hành; quy định rõ cơ chế xử lý tài sản khi doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ, thẩm quyền yêu cầu xử lý, thứ tự ưu tiên thanh toán và trách nhiệm của các bên liên quan.
Theo đại biểu Trần Lan Phương, thông tin về vai trò của ngân hàng, tình trạng pháp lý, giá trị và khả năng xử lý tài sản bảo đảm cần được công bố đầy đủ, rõ ràng, dễ hiểu để tránh tạo cảm giác an toàn không có căn cứ cho nhà đầu tư.













