Đại hội XIV là dấu mốc lịch sử mở ra kỷ nguyên phát triển mới của đất nước
Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương khẳng định: Đại hội XIV không chỉ là một sự kiện chính trị trọng đại mà còn là dấu mốc lịch sử mở ra kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, của dân tộc, kỷ nguyên bứt phá, sáng tạo và tự chủ.

Toàn cảnh Hội nghị tại điểm cầu Diên Hồng.
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng sáng 7/2, đồng chí Trịnh Văn Quyết - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương - truyền đạt chuyên đề "Một số vấn đề mới, cốt lõi và kinh nghiệm 40 năm đổi mới trong văn kiện Đại hội XIV của Đảng".
Đồng chí Trịnh Văn Quyết nhấn mạnh, từ ngày 19 đến ngày 23/1/2026, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công rất tốt đẹp. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV gồm những đồng chí được chọn lọc kỹ càng, đủ tài, đủ đức và đủ sức gánh vác trách nhiệm trước Đảng, trước Nhân dân.
Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương nhấn mạnh, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang tầm vóc lịch sử đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là một kỳ Đại hội tổng kết nhiệm kỳ hay xác định mục tiêu 5 năm, mà là Đại hội định hình tư duy phát triển, xác lập mô hình tăng trưởng mới và kiến tạo nền tảng thể chế cho cả một chặng đường dài của dân tộc đến giữa thế kỷ XXI. Đại hội XIV thực sự là Đại hội của bước ngoặt phát triển, của tầm nhìn chiến lược và của khát vọng vươn mình mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Đại hội của bước chuyển giai đoạn phát triển
Nhìn lại chặng đường gần 40 năm đổi mới, có thể thấy rõ: giai đoạn vừa qua chủ yếu là quá trình thoát khỏi khủng hoảng, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo lập nền tảng thể chế và tích lũy tiềm lực phát triển. Nhờ đó, đất nước đã: Ra khỏi nhóm nước nghèo; trở thành nền kinh tế có quy mô ngày càng lớn; hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt; vị thế và uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao.

Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nguyên Lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Hội nghị. Ảnh: Hải Nguyễn
Tuy nhiên, khi quy mô phát triển đạt đến một mức nhất định, mô hình tăng trưởng cũ dần bộc lộ giới hạn như: Dựa nhiều vào vốn, tài nguyên, lao động giá rẻ; năng suất lao động thấp; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thật sự là động lực chủ yếu; thể chế còn nhiều điểm nghẽn.
Chính trong bối cảnh ấy, Đại hội XIV đánh dấu bước chuyển sang giai đoạn "bứt phá phát triển". "Bứt phá" ở đây không chỉ là tăng trưởng nhanh hơn về số lượng, mà là chuyển đổi căn bản về chất lượng phát triển, thể hiện ở những yêu cầu: Đổi mới mô hình phát triển; thay đổi động lực tăng trưởng; nâng cao năng lực quản trị quốc gia; tạo thế và lực mới cho đất nước.
Đó là bước chuyển: Từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu; từ dựa vào tài nguyên, lao động giá rẻ sang dựa vào tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; từ "theo kịp" sang "vươn lên cạnh tranh"; từ "ổn định để phát triển" sang tư duy biện chứng "phát triển để ổn định, ổn định để phát triển bền vững và cải thiện đời sống Nhân dân". Có thể nói, Đại hội XIV mở ra một tầm mức phát triển mới của đất nước - tầm mức phát triển dựa trên động lực nội sinh và năng lực sáng tạo của dân tộc.
Đại hội của tầm nhìn chiến lược dài hạn
Một trong những điểm nổi bật của Đại hội XIV là tầm nhìn chiến lược dài hạn, vượt ra ngoài khuôn khổ một nhiệm kỳ. Đại hội xác lập rõ các mục tiêu chiến lược: Đến năm 2030: nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045: nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Những mục tiêu ấy không chỉ là những chỉ tiêu kinh tế thuần túy, mà là sự kết tinh của khát vọng phát triển dân tộc, là lời cam kết chính trị của Đảng trước Nhân dân và trước lịch sử.

Các đại biểu tham dự Hội nghị tại điểm cầu Diên Hồng.
Điều quan trọng hơn là: để hiện thực hóa các mục tiêu ấy, Đại hội không dừng ở mong muốn hay khẩu hiệu, mà đồng thời thiết kế hệ giải pháp đồng bộ: Tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển; đột phá khoa học - công nghệ; phát triển kinh tế tư nhân; nâng tầm giáo dục và nguồn nhân lực; khơi dậy sức mạnh văn hóa - con người; mở rộng không gian đối ngoại và tự chủ chiến lược. Chính sự gắn kết giữa tầm nhìn - mục tiêu - giải pháp - tổ chức thực hiện đã tạo nên chiều sâu chiến lược và tính khả thi cho đường lối phát triển.
Thành công nổi bật của Đại hội
Có thể khái quát một số thành công cơ bản của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng trên ba phương diện:
Thứ nhất, thành công về tư duy và nhận thức lý luận: Đại hội thể hiện rõ tinh thần khoa học, thực tiễn, dũng cảm "nhìn thẳng vào sự thật", đánh giá khách quan cả thành tựu và hạn chế, chỉ rõ những "điểm nghẽn của phát triển" về thể chế, nguồn lực, quản trị, chất lượng tăng trưởng.
Trên cơ sở đó, Đại hội đã bổ sung và phát triển nhiều nhận thức lý luận mới: tự chủ chiến lược; thể chế phát triển; khoa học, công nghệ là động lực chủ yếu; kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất; văn hóa, con người là sức mạnh nội sinh… Đây là biểu hiện sinh động của bản lĩnh tự đổi mới và năng lực tổng kết thực tiễn của Đảng cầm quyền, là kết tinh của những bài học kinh nghiệm qua 40 năm đổi mới vừa qua.
Thứ hai, thành công về định hướng chiến lược và thiết kế chính sách: Lần đầu tiên, một hệ quan điểm phát triển được xây dựng theo tư duy hệ thống, đa trụ cột, đa động lực, gắn chặt kinh tế với văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
Đặc biệt, việc tích hợp ba báo cáo lớn thành một Báo cáo chính trị thống nhất là một thành công rất quan trọng cả về phương pháp luận và phương thức lãnh đạo. Sự tích hợp này mang nhiều ý nghĩa sâu sắc: Khắc phục tình trạng trùng lặp, phân tán, "mạnh ai nấy nói" giữa các văn kiện; bảo đảm sự thống nhất giữa đường lối chính trị, chiến lược kinh tế - xã hội và công tác xây dựng Đảng; tạo nên một chỉnh thể tư duy nhất quán, xuyên suốt.
Quan trọng hơn, về mặt tổ chức thực tiễn: cán bộ, đảng viên dễ tiếp cận, dễ học tập, dễ quán triệt; tránh cách hiểu khác nhau giữa các báo cáo; giảm nguy cơ vận dụng rời rạc, cục bộ; tăng tính thống nhất ý chí và hành động trong toàn hệ thống chính trị.
Có thể nói, tích hợp văn kiện chính là tích hợp tư duy, tích hợp nhận thức và tích hợp hành động, qua đó nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng trong điều kiện mới. Đây không chỉ là đổi mới kỹ thuật biên soạn, mà là đổi mới phương thức lãnh đạo bằng văn kiện - từ "định hướng" sang "hành động", từ "nói đúng" sang "làm được".
Thứ ba, thành công về khơi dậy niềm tin và khát vọng phát triển dân tộc: Nếu văn kiện chỉ dừng ở chính sách mà không tạo được niềm tin xã hội thì khó trở thành động lực phát triển. Đại hội XIV đã làm được điều quan trọng hơn: khơi dậy mạnh mẽ tinh thần tự tin, tự lực, tự cường, ý chí vươn lên của toàn dân tộc; kết nối khát vọng của Đảng với mong muốn của Nhân dân; biến mục tiêu phát triển thành mệnh lệnh hành động chung. Đó chính là sức mạnh tinh thần, nguồn lực nội sinh to lớn nhất, nền tảng để biến mọi chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước thành hiện thực.
Từ sự phân tích các yếu tố trên cho thấy: Đại hội XIV không chỉ là một sự kiện chính trị thông thường, mà là dấu mốc lịch sử mở ra kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, của dân tộc, kỷ nguyên bứt phá, sáng tạo và tự chủ. Vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.












