Đại hội XIV - Một Đại hội có ý nghĩa bản lề lịch sử
Ông Hà Sỹ Đồng, nguyên Quyền Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị (cũ), đại biểu Quốc hội khóa XV cho rằng Đại hội XIV của Đảng không chỉ là Đại hội tổng kết, mà phải là Đại hội mở đường, xác lập tầm nhìn và phương thức phát triển mới cho đất nước trong nhiều thập niên tới.

Ông Hà Sỹ Đồng trả lời báo chí.
Trong thời khắc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đang diễn ra, ông Hà Sỹ Đồng, nguyên Quyền Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị (cũ), đại biểu Quốc hội khóa XV, đã dành cho Báo Giáo dục và Thời đại cuộc trao đổi với nhiều nội dung từ đổi mới tư duy phát triển, hoàn thiện thể chế và những kỳ vọng về một chặng đường phát triển mới của dân tộc.
Thưa ông, trong thời khắc lịch sử Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đang diễn ra, ông đánh giá như thế nào về sự phát triển của đất nước trong thời điểm hiện tại và những yêu cầu đặt ra đối với tư duy phát triển quốc gia trong chặng đường sắp tới?
Năm 2025 là năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, đồng thời cũng là thời điểm đất nước đứng trước những quyết sách mang tính bước ngoặt, có ý nghĩa định hình lâu dài đối với không gian phát triển quốc gia. Tôi cho rằng đây là một giai đoạn lịch sử rất đặc biệt, bởi chúng ta không chỉ tổng kết một nhiệm kỳ, mà đang chuẩn bị mở ra một chu kỳ phát triển mới với tầm nhìn dài hạn hơn, yêu cầu cao hơn và áp lực lớn hơn.
Việc sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp tỉnh - theo cách nói hình tượng là “sắp xếp lại giang sơn” - không đơn thuần là điều chỉnh địa giới hay tổ chức bộ máy, mà thực chất là tái cấu trúc không gian phát triển của đất nước. Quyết sách này nhằm khắc phục tình trạng phát triển manh mún, phân tán nguồn lực, đồng thời hình thành những vùng kinh tế có quy mô đủ lớn, đủ sức cạnh tranh và lan tỏa động lực phát triển.
Điều đó đặt ra yêu cầu rất cao đối với tư duy phát triển quốc gia trong giai đoạn tới. Chúng ta phải chuyển từ tư duy phát triển theo địa giới hành chính sang tư duy phát triển liên vùng, tích hợp; từ tư duy nhiệm kỳ sang tư duy chiến lược dài hạn; từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển. Đại hội XIV vì vậy không chỉ là Đại hội tổng kết, mà phải là Đại hội mở đường, xác lập tầm nhìn và phương thức phát triển mới cho đất nước trong nhiều thập niên tới.
Thưa ông, Báo cáo chính trị đặt ra mục tiêu đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Ông đánh giá mục tiêu này như thế nào?
Tôi cho rằng các mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 không chỉ là những chỉ tiêu kinh tế - xã hội, mà là sự kết tinh cao nhất của khát vọng phát triển dân tộc trong thời đại mới. Lần đầu tiên, mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 được đặt ra một cách nhất quán, xuyên suốt và gắn chặt với hệ giá trị phát triển toàn diện của đất nước.
Mốc năm 2030 không chỉ là một đích đến trung hạn mà là nấc thang bản lề, quyết định việc Việt Nam có đủ năng lực nội sinh để bước sang giai đoạn phát triển cao hơn hay không? Nếu vượt qua được mốc này bằng chất lượng tăng trưởng thực chất, bằng năng suất lao động, bằng khoa học - công nghệ và bằng một nền kinh tế có sức cạnh tranh cao thì mục tiêu 2045 sẽ có cơ sở vững chắc. Ngược lại, nếu chỉ đạt được bằng mở rộng quy mô, bằng tăng trưởng chiều rộng thì nguy cơ mắc kẹt ở trình độ trung bình sẽ vẫn hiện hữu.
Điểm rất quan trọng là các mục tiêu phát triển lần này không tách rời kinh tế khỏi xã hội, không tách tăng trưởng khỏi con người. Phát triển được đặt trong một chỉnh thể thống nhất: Phát triển nhanh nhưng phải bền vững; giàu mạnh nhưng phải văn minh; tăng trưởng kinh tế phải song hành với tiến bộ, công bằng xã hội, với hạnh phúc và chất lượng sống của nhân dân. Đây là bước phát triển rất rõ nét trong tư duy lãnh đạo và quản trị quốc gia.
Tuy nhiên, cũng cần nói thẳng rằng đây là những mục tiêu cực kỳ thách thức. Để đạt được, không thể trông chờ vào quán tính cũ hay những biện pháp tình thế. Điều đó đòi hỏi một cuộc đổi mới mạnh mẽ và toàn diện hơn về thể chế, về mô hình tăng trưởng, về chất lượng nguồn nhân lực và về năng lực thực thi của bộ máy. Nếu làm được, Việt Nam không chỉ rút ngắn khoảng cách với các nước đi trước, mà còn khẳng định được vị thế và bản lĩnh của một quốc gia đang vươn lên mạnh mẽ trong trật tự thế giới mới.

Ông Hà Sỹ Đồng, nguyên Quyền Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị (cũ).
Thưa ông, văn kiện đã nêu GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD. Theo ông, nước ta đã hội tụ đủ tiền đề để hiện thực hóa các mục tiêu này hay chưa?
Trong bối cảnh đất nước mở rộng không gian phát triển, đồng thời Bộ Chính trị ban hành nhiều Nghị quyết trụ cột và Quốc hội thông qua hàng loạt luật, chính sách quan trọng, tôi cho rằng Việt Nam đang hội tụ những tiền đề phát triển rất thuận lợi, thậm chí có thể nói là hiếm có trong nhiều thập niên qua.
Chúng ta có không gian phát triển mới rộng mở hơn, có khung khổ thể chế ngày càng hoàn thiện, có lực lượng lao động trẻ, năng động, có cộng đồng doanh nghiệp ngày càng trưởng thành và có khát vọng vươn lên mạnh mẽ. Tuy nhiên, lịch sử phát triển của nhiều quốc gia cho thấy thời cơ lớn luôn đi kèm thách thức lớn, và không phải quốc gia nào có thời cơ cũng biến được thời cơ thành bước ngoặt.
Yếu tố quyết định nằm ở năng lực tổ chức thực hiện, ở kỷ luật, kỷ cương của bộ máy và ở bản lĩnh dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Nếu không vượt qua được điểm nghẽn này thì mọi mục tiêu dù đúng đắn đến đâu cũng sẽ bị bào mòn trong thực tiễn. Nhưng nếu vượt qua được, giai đoạn 2026-2030 sẽ không chỉ là giai đoạn tăng trưởng cao mà sẽ trở thành dấu mốc lịch sử đưa Việt Nam bước sang một tầm phát triển mới.
Nói cách khác, đây là thời điểm mà đất nước không được phép do dự, không được phép chậm trễ, và càng không được phép tự bằng lòng. Hoặc chúng ta bứt phá để vươn lên, hoặc sẽ lỡ nhịp trong cuộc cạnh tranh toàn cầu đang diễn ra ngày càng quyết liệt.
Thưa ông, vậy chúng ta phải làm gì để thực hiện thành công những mục tiêu phát triển nêu trên?
Để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển lớn, theo tôi, cần sự vào cuộc đồng bộ, mạnh mẽ và có kỷ luật của cả hệ thống chính trị, của các địa phương và của cộng đồng doanh nghiệp.
Chính phủ phải thực sự là Chính phủ kiến tạo phát triển, hành động quyết liệt, nói đi đôi với làm, lấy hiệu quả thực chất làm thước đo cao nhất. Mỗi chủ trương, chính sách ban hành phải được tổ chức thực hiện nghiêm túc, được lượng hóa bằng kết quả cụ thể và được kiểm chứng bằng niềm tin của người dân, doanh nghiệp.
Các địa phương, nhất là các địa phương sau sắp xếp, phải mạnh dạn thoát khỏi tư duy cũ, tái định vị vai trò của mình trong không gian phát triển mới. Phát triển địa phương không còn là phát triển khép kín trong phạm vi địa giới hành chính, mà phải gắn với liên kết vùng, với chuỗi giá trị và với chiến lược phát triển chung của quốc gia.
Cộng đồng doanh nghiệp cần được xác lập đúng vị trí là trung tâm của tăng trưởng và đổi mới sáng tạo. Khi doanh nghiệp được tin tưởng, được bảo vệ và được khuyến khích đầu tư dài hạn thì sức sống của nền kinh tế sẽ được nhân lên nhiều lần.
Có thể nói một cách dứt khoát rằng nếu Chính phủ không quyết liệt, địa phương không đổi mới và doanh nghiệp không bứt phá thì mọi mục tiêu phát triển sẽ chỉ dừng lại trên giấy. Nhưng khi cả ba trụ cột này cùng chuyển động mạnh mẽ, đất nước sẽ tạo ra sức bật đủ lớn để chuyển hóa khát vọng thành hiện thực.
Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh rằng “Việt Nam là quốc gia hùng cường, thịnh vượng, hạnh phúc. Đó là khát vọng của cả dân tộc, là lời thề danh dự trước lịch sử, trước Nhân dân”. Theo ông, Đại hội XIV có ý nghĩa như thế nào trong việc hiện thực hóa khát vọng của cả dân tộc và lời thề danh dự đó?
Tôi cho rằng Đại hội XIV mang ý nghĩa bản lề lịch sử đặc biệt trong hành trình hướng tới mục tiêu kỷ niệm 100 năm thành lập nước. “Lời thề danh dự trước lịch sử và Nhân dân” mà Tổng Bí thư nhấn mạnh không chỉ là một thông điệp chính trị mà là cam kết trách nhiệm cao nhất của Đảng đối với vận mệnh dân tộc.
Đại hội XIV phải là Đại hội chuyển hóa khát vọng thành hành động, chuyển cam kết chính trị thành kết quả cụ thể, chuyển ý chí của Đảng thành những đổi thay thực chất trong đời sống Nhân dân. Thành công của Đại hội không chỉ được đo bằng những trang văn kiện được thông qua mà quan trọng hơn là bằng niềm tin xã hội được củng cố, bằng ý chí tự cường dân tộc được khơi dậy và bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc được phát huy.
Và ở thời khắc lịch sử này, thông điệp lớn nhất mà Đại hội XIV cần gửi tới toàn Đảng, toàn dân và toàn quân chính là một lời khẳng định dứt khoát: Việt Nam không lựa chọn con đường phát triển dễ dàng mà lựa chọn con đường phát triển bền bỉ bằng trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng vươn lên của cả dân tộc. Mỗi quyết định hôm nay sẽ định hình diện mạo đất nước trong nhiều thập niên tới, mỗi hành động hôm nay là lời trả lời trực tiếp trước lịch sử và Nhân dân. Khi khát vọng trở thành hành động, khi lời thề danh dự được hiện thực hóa bằng những kết quả cụ thể thì mục tiêu xây dựng một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng và hạnh phúc vào năm 2045 nhất định sẽ trở thành hiện thực.
Thưa ông, với tư cách là Đại biểu Quốc hội đương nhiệm và là người đã từng là lãnh đạo cao nhất của một địa phương, ông kỳ vọng gì về Đại hội XIV?
Không riêng gì bản thân tôi mà đại đa số cán bộ, Đảng viên và Nhân dân cả nước, kiều bào ở nước ngoài đều đang hướng về Đại hội, đặt nhiều kỳ vọng và mong chờ Đại hội sẽ thật sự sáng suốt, thật sự trách nhiệm trong việc lựa chọn, bầu ra đội ngũ cán bộ lãnh đạo đủ tâm, đủ tầm, đủ bản lĩnh, biết đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết, để gánh vác trọng trách trong bộ máy Nhà nước pháp quyền của Nhân dân.
Từ niềm tin và kỳ vọng đó, tôi mong rằng mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân đều nhận thức sâu sắc ý nghĩa to lớn của Đại hội XIV đối với tương lai đất nước. Thành công của Đại hội không chỉ nằm ở các văn kiện được thông qua, mà quan trọng hơn là ở sự chuyển biến mạnh mẽ trong hành động, ở kỷ luật thực thi và ở trách nhiệm đến cùng của mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương và mỗi cá nhân.
Đại hội lần này không chỉ mở ra một nhiệm kỳ mới, mà mở ra một chặng đường phát triển mới của dân tộc. Khi ý chí của Đảng gặp khát vọng của Nhân dân, khi thể chế được khai thông và hành động được thúc đẩy đến cùng Việt Nam sẽ không chỉ vượt qua giới hạn của chính mình, mà vững vàng vươn lên, tự tin bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Kỷ nguyên của một quốc gia hùng cường, thịnh vượng và hạnh phúc.













