Đại tướng Võ Nguyên Giáp - nhà chỉ huy quân sự kiệt xuất
Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một nhà chỉ huy quân sự và nhà hoạt động chính trị kiệt xuất, là đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ông là nhà chỉ huy quân sự nổi bật nhất bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước.
Tỏa sáng sự nghiệp quân sự
Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911 tại làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy (nay là xã Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình), trong một gia đình có truyền thống yêu nước.
Từ năm 1925, ông học tại Quốc học Huế, sau đó hoạt động báo chí, tham gia Tân Việt Cách mạng Đảng và phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Năm 1930, ông bị thực dân Pháp bắt giam; sau khi được trả tự do, ông ra Hà Nội học tập, đỗ cử nhân Luật năm 1937. Giai đoạn 1936 - 1939, ông tích cực hoạt động báo chí, đồng thời dạy môn Lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long, đặt nền móng cho con đường hoạt động cách mạng sau này.
Ngày 3/5/1940, Võ Nguyên Giáp với bí danh là Dương Hoài Nam cùng Phạm Văn Đồng lên Cao Bằng rồi vượt biên giới sang Trung Quốc để gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1940 và bắt đầu các hoạt động của mình trong Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội, một tổ chức chống phát - xít và đấu tranh cho độc lập của Việt Nam. Ông tham gia xây dựng cơ sở cách mạng, mở lớp huấn luyện quân sự cho Việt Minh ở Cao Bằng.
Ngày 22/12/1944, theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, ông thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tại rừng Trần Hưng Đạo với 34 chiến sĩ. Ngay sau đó, ngày 25/12/1944, Võ Nguyên Giáp chỉ huy đội quân lập chiến công đầu tiên là tập kích diệt gọn đồn Phai Khắt, sau đó là đồn Nà Ngần.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được cử làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Phó Bộ trưởng (nay là Thứ trưởng) Bộ Quốc phòng trong Chính phủ lâm thời (từ ngày 28/8 đến hết năm 1945) và là Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân tự vệ.
Là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong Chính phủ Liên hiệp (cho đến tháng 7/1947 và từ tháng 7/1948 trở đi). Trong năm 1946, ông kết hôn với bà Đặng Bích Hà (con gái giáo sư Đặng Thai Mai).
Ngày 19/12/1946, Chiến tranh Đông Dương bùng nổ. Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản, ông chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang kéo dài 9 năm chống thực dân Pháp (1945 - 1954) trên cương vị Tổng Chỉ huy và Tổng Chính ủy, từ năm 1949 đổi tên gọi là Tổng Tư lệnh quân đội kiêm Bí thư Tổng Quân ủy.
Không được đào tạo tại bất kỳ trường quân sự nào trước đó, không phải trải qua các cấp bậc quân hàm trong quân đội, Võ Nguyên Giáp thụ phong quân hàm Đại tướng vào ngày 28/5/1948 theo Sắc lệnh 110/SL ký ngày 20/1/1948, ông trở thành Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam khi 37 tuổi. Sau này, trả lời phóng viên nước ngoài về tiêu chí phong tướng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “người nào đánh thắng đại tá thì phong đại tá, đánh thắng thiếu tướng thì phong thiếu tướng, đánh thắng trung tướng thì phong trung tướng, đánh thắng đại tướng thì phong đại tướng”.
Từ tháng 8/1945, Võ Nguyên Giáp là một trong 5 ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và trở thành Ủy viên Bộ Chính trị (thay thế Ban Thường vụ Trung ương) Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1951.
Các chiến dịch ông đã tham gia với tư cách là Tư lệnh chiến dịch - Bí thư Đảng ủy trong kháng chiến chống Pháp cùng với Thiếu tướng Hoàng Văn Thái làm tham mưu trưởng chiến dịch: Chiến dịch Việt Bắc (Thu Đông 1947), Chiến dịch Biên giới (tháng 9 - 10/1950), Chiến dịch Trung Du (tháng 12/1950), Chiến dịch Đông Bắc (năm 1951), Chiến dịch Đồng Bằng (tháng 5/1951), Chiến dịch Hòa Bình (tháng 12/1951), Chiến dịch Tây Bắc (tháng 9/1952), Chiến dịch Thượng Lào (tháng 4/1953), Chiến dịch Điện Biên Phủ (tháng 3 - 5/1954).
Nghệ thuật lấy yếu thắng mạnh
Trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp, Võ Nguyên Giáp từng bước hình thành và phát triển tư tưởng, nghệ thuật quân sự phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Như các danh tướng Việt Nam trong lịch sử, Võ Nguyên Giáp chú trọng nghệ thuật lấy ít địch nhiều, lấy yếu chế mạnh, lấy thô sơ thắng hiện đại. Tư tưởng quân sự nổi tiếng của ông có tên gọi là chiến tranh nhân dân kế thừa quan điểm quân sự Hồ Chí Minh, tinh hoa nghệ thuật đánh giặc của tổ tiên, tri thức quân sự thế giới, lý luận quân sự Mác - Lê-nin và đúc rút từ kinh nghiệm cá nhân được liên tục cập nhật trong nhiều cuộc chiến tranh mà nổi bật là kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Từ thực tiễn chiến trường, nghệ thuật quân sự của quân đội ta ngày càng trưởng thành qua hàng loạt chiến dịch: Việt Bắc Thu - Đông 1947, Biên giới 1950, Trung Du, Đông Bắc, Đồng Bằng, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào và Điện Biên Phủ. Trong đó, Chiến dịch Biên giới 1950 có một vị trí đặc biệt bởi nó gắn trực tiếp với Cao Bằng, nơi đã mở đầu sự nghiệp quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đây là chiến dịch tiến công quy mô lớn đầu tiên của quân đội ta trong kháng chiến chống Pháp. Võ Nguyên Giáp được giao làm Bí thư Đảng ủy Mặt trận, Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy chiến dịch.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trở lại thăm nhân dân Pác Bó năm 1994. Ảnh: T.L
Ban đầu, phương án tác chiến dự kiến chọn Cao Bằng làm hướng tiến công mở màn. Tuy nhiên, qua nghiên cứu thực địa, Bộ Chỉ huy chiến dịch nhận thấy việc tiến công thị xã Cao Bằng lúc đó gặp nhiều khó khăn; nếu đánh Cao Bằng, khả năng buộc quân Pháp đưa lực lượng đến ứng cứu để ta thực hiện phương châm “đánh điểm, diệt viện” không cao. Trên cơ sở đánh giá lại tình hình, Võ Nguyên Giáp cùng Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định chuyển hướng tiến công chủ yếu sang Đông Khê. Đây là một quyết định thể hiện rõ khả năng đánh giá thực tiễn chiến trường và tư duy tác chiến linh hoạt. Đông Khê nằm trên đường số 4, giữa Cao Bằng và Thất Khê. Đánh Đông Khê không chỉ nhằm phá vỡ một mắt xích trong hệ thống phòng thủ của quân Pháp mà còn tạo thế buộc đối phương phải đưa quân ứng cứu, từ đó tạo điều kiện để quân ta đánh viện.
Ngày 16/9/1950, chiến dịch mở màn bằng trận tiến công Đông Khê. Sau 29 ngày đêm chiến đấu, Chiến dịch Biên giới giành thắng lợi, tuyến biên giới được khai thông, căn cứ địa Việt Bắc được mở rộng, cuộc kháng chiến bước sang giai đoạn mới.
Tầm vóc một nhà quân sự kiệt xuất
Sau Chiến dịch Biên giới, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục chỉ huy nhiều chiến dịch lớn trong kháng chiến chống Pháp, đỉnh cao của nghệ thuật quân sự của ông trong cuộc kháng chiến này là Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Lao động tin tưởng trao cho toàn quyền chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trước khi ra trận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn dò: “Cho chú toàn quyền chỉ huy".
Từ 34 chiến sĩ ở Cao Bằng năm 1944 đến chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là một chặng đường chỉ mười năm, nhưng trong mười năm ấy, một đội quân nhỏ bé đã trở thành thành một lực lượng quân sự đủ sức đánh bại một đội quân nhà nghề được trang bị hiện đại. Chiến thắng Điện Biên Phủ đưa tên tuổi Võ Nguyên Giáp vượt khỏi phạm vi Việt Nam, trở thành một dấu mốc quan trọng trong lịch sử quân sự thế giới.
Sau năm 1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục giữ những trọng trách cao trong Đảng, Nhà nước và Quân đội. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông giữ vai trò quan trọng trong xây dựng, tổ chức và chỉ đạo lực lượng vũ trang nhân dân. Quân đội Việt Nam ngày càng phát triển về tổ chức, lực lượng, trang bị và nghệ thuật tác chiến, tiến hành nhiều chiến dịch lớn. Võ Nguyên Giáp tham gia chỉ đạo nhiều chiến dịch quan trọng, trong đó có Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, các chiến dịch năm 1972 và Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975.
Nếu Cao Bằng là nơi mở đầu sự nghiệp cầm quân, Điện Biên Phủ là đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống Pháp, thì thắng lợi mùa Xuân năm 1975 đánh dấu một chặng đường lịch sử hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Nhìn lại cuộc đời quân sự của Võ Nguyên Giáp, điều làm nên tầm vóc của ông không chỉ là số lượng những chiến dịch đã chỉ huy hay những chiến thắng đã giành được. Điều quan trọng hơn là nghệ thuật tổ chức và phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân. Từ Phai Khắt - Nà Ngần đến Biên giới 1950, từ Biên giới đến Điện Biên Phủ, rồi những chiến dịch lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, tư duy ấy không ngừng được bổ sung, phát triển qua thực tiễn. Chính những đóng góp đó đã đưa Đại tướng Võ Nguyên Giáp trở thành một trong những nhà chỉ huy quân sự nổi bật của thế kỷ XX.
Năm 2013, trái tim lớn đã ngừng đập ở tuổi 103, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Đại tướng huyền thoại của lòng dân đã ra đi nhưng tên tuổi và sự nghiệp của ông vẫn sống mãi với non sông Việt Nam.
