Đằng sau những con số - Kỳ 1

Loạt bài chính luận (3 kỳ) hưởng ứng Giải báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng - Giải Búa liềm vàng lần thứ XI, năm 2026.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Ngân hàng là nơi của những con số: nợ và có, lãi suất và thanh khoản, hạn mức và quyết toán. Ít ai nghĩ đó lại là nơi thơ ca, âm nhạc, văn chương có thể nảy mầm. Vậy mà gần bảy thập kỷ qua, riêng ở Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã có hai tuyển tập thơ được xuất bản chính thức, hai tập thơ nhạc do Nhà xuất bản Âm nhạc ấn hành, hàng chục ca khúc, nhiều tập hồi ký, bút ký và cả một bộ phim do chính cán bộ viết kịch bản. Loạt bài đọc lại nguồn mạch ấy qua ba lớp: người làm ngân hàng trong thơ, tiếng hát trong ngôi nhà chung, và những câu chuyện nghề được truyền từ đời này sang đời khác.

Loạt bài được đặt trong dòng chảy của Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới, Kết luận số 84-KL/TW tiếp tục thực hiện nghị quyết ấy, và Quyết định số 1858/QĐ-NHNN ngày 18/8/2026 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng. Đọc lại nguồn mạch văn nghệ của một ngân hàng dưới ánh sáng ấy, có thể thấy rõ hơn một điều: văn học nghệ thuật không phải thứ trang trí bên lề nghề tiền tệ, mà là một phần của nền tảng tinh thần, của sức mạnh nội sinh mà Đảng ta đang kêu gọi khơi dậy.

Kỳ 1 - Người làm ngân hàng trong thơ

Hai tuyển tập thơ, cách nhau năm năm, phần lớn do chính cán bộ ngân hàng viết. Đọc kỹ, đó không chỉ là thơ về nghề, mà là một bức chân dung đạo đức của người làm nghề - được vẽ trước cả khi tổ chức kịp gọi tên những giá trị của mình.

“Ít thi liệu hơn cả biển và trời”

Đại tá, nhà thơ Đỗ Trung Lai, khi viết lời giới thiệu cho tuyển tập “Có một ngân hàng như thế” của BIDV, kể rằng có người bạn thơ phải viết về biển và trời đã kêu khó, vì biển thì căn bản chỉ có nước, sóng, tàu thuyền; trời thì chỉ mây, gió, sấm, chớp. Rồi ông nói thẳng: “Ngân hàng, thậm chí còn ít ‘thi liệu’ hơn biển và trời nhiều. Cho nên, viết về ngân hàng lại càng khó.”

Nhưng ông không dừng ở đó. Ông không khen tập thơ là hay; ông gọi nó là quý, quý trước hết bởi tấm lòng của những người viết, và kết bằng một câu: “Rất ít ngành có được một tập thơ quý như thế này”.

Nhà thơ Vũ Quần Phương, Chủ tịch Hội đồng thơ, Hội Nhà văn Việt Nam, thì đặt ra một mệnh đề có sức soi chiếu xa hơn một tập sách: “Ở đâu có vui buồn thì ở đó có thơ. Có thơ với các con số trừu tượng phải là người trong cuộc. Với họ, đằng sau các con số, các biểu đồ, các tính toán; là hạnh phúc, là cuộc sống của đồng bào, là sự đổi thay, dựng xây; là vẻ đẹp và sự thịnh vượng của đất nước”.

Hai nhận định ấy, đặt cạnh nhau, trao cho ta một chiếc chìa khóa. Nếu nghề ngân hàng tự nó khô khan, mà thơ về người ngân hàng vẫn đáng đọc, thì chất thơ không nằm ở nghề, mà nằm ở người làm nghề. BIDV là một trong số rất ít tổ chức tài chính Việt Nam có tới hai tuyển tập thơ được xuất bản chính thức: “Con thuyền đỏ - cánh buồm xanh” (2002) và “Có một ngân hàng như thế” (2007). Cả hai phần lớn không do nhà thơ chuyên nghiệp viết, mà do kế toán viên, cán bộ tín dụng, kiểm ngân. Họ vừa là tác giả, vừa là nhân vật. Họ tự tạc lấy chân dung mình.

Năm cách gọi tên và một chữ “nghĩa tình” đến sớm

Một trong những đoạn quý nhất về con người BIDV lại nằm ở lời giới thiệu của nhà thơ Bằng Việt. Đọc xong tập thơ, ông viết rằng những trạng thái tâm lý, tình cảm cụ thể và đa dạng ấy làm ta thông cảm hơn, kính trọng hơn, yêu mến hơn những con người biết làm chủ đồng tiền. Rồi ông gọi tên họ: người “nâng bước cho người đến ước mong”; người “gieo những mầm xanh”; người “ca lên lời ca từ đá núi”; người “hiểu thấu lẽ đời khi trồng cây đức”; và người “như hòa vào cổ tích khi làm cô Tấm ở bản xa”.

Năm cách gọi tên ấy trùng khít đến kinh ngạc với hệ giá trị mà BIDV về sau chính thức tuyên xưng. “Trồng cây đức” là Liêm chính. “Gieo những mầm xanh” là Khát vọng. “Nâng bước cho người đến ước mong” là Nghĩa tình. Nhà nghiên cứu đi từ tư liệu mà tới; nhà thơ đi từ cảm xúc mà tới. Hai con đường, một điểm hẹn.

Và có một chi tiết về niên đại khiến câu chuyện có sức nặng riêng. Khi Bằng Việt viết những dòng ấy năm 2007, chữ “Nghĩa tình” chưa có mặt trong bộ giá trị chính thức của BIDV. Phải đến Nghị quyết số 25-NQ/ĐU ngày 7/11/2025 của Đảng ủy BIDV, “Nghĩa tình” mới được đưa vào thay cho “Chuyên nghiệp”, rồi được thể chế hóa trong Sổ tay Văn hóa BIDV năm 2026. Nghĩa là nhà thơ đã đọc thấy cái nghĩa tình trong thơ của người BIDV mười tám năm trước ngày tổ chức chính thức gọi tên nó. Và khi tổ chức đảng quyết định gọi tên, nghị quyết ấy không “sáng tác” ra một giá trị mới, mà thừa nhận một giá trị đã sống sẵn trong lòng người lao động từ lâu. Đó là cách một nghị quyết của cấp ủy chạm được vào gốc rễ: lắng nghe điều quần chúng đã tự nói ra, rồi nâng nó lên thành chuẩn mực chung.

Cô Tấm ở bản xa và người ngồi sau tấm kính

Hình tượng ám ảnh nhất, và cũng Việt Nam nhất, là cô Tấm. Nhà thơ Nghiêm Thị Hằng đặt tên bài thơ là “Cô Tấm bản xa”: người nữ cán bộ tín dụng vượt suối sâu, đường xa đến bản, mang theo một thứ “phép tiên” rất thực - bắc cầu qua sông, dựng trường học mới. Lê Xuân Đạm, người góp tới bảy bài trong tập, cũng đặt tên bài thơ của mình là “Cô Tấm Ngân hàng Đầu tư”.

Bài thơ đẩy nguyên mẫu ấy lên tầm bi tráng là “Lời ca từ đá núi” của Lê Thị Hải Yến. Trên ruộng bậc thang ngược dốc lên trời, người con gái ngân hàng vượt núi “bằng đôi chân con gái”. Tác giả nói rõ chị khác gì cô giáo vùng xuôi: cô giáo mang chữ đến cho dân, còn chị mang đồng vốn đến cho làng, cho bản.

Nếu cô Tấm đi rất xa, thì có những người ngồi rất gần - ngay sau tấm kính quầy giao dịch. Đinh Đức Toàn viết về cô kiểm ngân: “Em ngồi trước máy như bông cúc”, rồi để chính cô tự hiểu về phận nghề của mình: “nghề em vốn lặng thầm”. Lê Hoài Minh, trong “Cô gái kiểm ngân”, phá tan ngộ nhận rằng nghề ấy nhàn: mắt mỏi từ sáng đến chiều mà tuyệt đối “Đếm sao, không thiếu, không thừa”. Vũ Tiến Độ tìm ra một định nghĩa hàm súc về nghề kế toán: “Em nói bằng con số”. Còn Phạm Thị Lựa, trong “Hạnh phúc của em”, để người nữ cán bộ nói với người mình thương rằng nếu anh tìm đến mà thấy em luôn bận việc, xin chớ lấy làm buồn, bởi “Đó chính là hạnh phúc.”

Đỉnh cao của nguyên mẫu này có lẽ là “Lặng lẽ xuân” của Đinh Hữu Ngọc. Người cán bộ tự nhận nghề mình chẳng mơ mộng gì, suốt ngày toàn con số; ngoài kia xuân rộn ràng trên phố - “Ai hay xuân cũng đến tự tay tôi”. Bởi chính từ tay anh, tiền lương, tiền thưởng tỏa về bao mái ấm. Người mang mùa xuân đến cho muôn nhà lại là người ở lại phía sau cánh cửa.

Một chiến trường khác, nơi “cám dỗ giăng đầy”

Một trong những bài thơ “đắt” nhất trong kho thơ BIDV là “Chiến trường” của Bùi Duy Hùng. Người cựu binh trở về sau những năm bão lửa, đôi lúc trở trời còn đau nhói vì mảnh đạn thù. Nay anh trở lại với những hàng lối - không phải đồng đội, mà là con chữ, con số xếp hàng. Rồi bài thơ dựng đứng một chân lý: chiến trường mới không có bom, có lửa, không ác liệt như xưa, “nhưng cám dỗ giăng đầy”. Và bài thơ khép lại bằng tư thế của người lính Cụ Hồ: chiến trường xưa anh có gục ngã bao giờ, thì dẫu phải hy sinh, “anh vẫn đứng”.

Cùng mạch ấy, Tạ Văn Khuyến trong “Nhớ thuyền” nghiệm ra “Thương trường cũng giống chiến trường năm xưa”, và gói cả đời nghề vào một câu: “Dốc lòng vì một chữ ‘Tâm’.” Bùi Hải Bình, trong bài “Cây Đức” chỉ vỏn vẹn bốn câu lục bát, đúc cả một đạo lý nghề nghiệp: người ta trồng cây hạnh để chơi, ta trồng cây đức để đời về sau - “Tiền thừa trả lại cho nhau”. Bốn câu ấy có thể khắc lên tường mọi phòng giao dịch.

Trần Huy Toàn, trong “Chuyện ngày xưa”, kể bằng giọng hóm hỉnh chuyện anh chồng cưới được vợ ngân hàng, mừng thầm rằng từ nay tiền sẽ tiêu tràn; ghé cơ quan thấy vợ ngồi giữa bàn đầy tiền, mà trưa về vẫn quả trứng, mớ rau. Để rồi anh vỡ lẽ trước câu nói nhỏ nhẹ của vợ: tiền nhà nước đâu phải của riêng mình mà vung tay. Còn Nguyễn Đôn Minh, trong “Mười thương cán bộ Ngân hàng Đầu tư”, mở đầu bằng người thủ quỹ: “Đạo đức liêm khiết một xu không màng.” Một xu - đơn vị nhỏ nhất của đồng tiền - được chọn làm thước đo lớn nhất của nhân cách.

Cũng bài “Mười thương” ấy còn làm một việc mà không bản báo cáo nhân sự nào làm nổi: nó gọi tên đủ mười vị trí của ngôi nhà bằng chữ “thương”. Thương thủ quỹ cần cù, thương kế toán dịu dàng, thương người làm nguồn vốn tính toán lỗ lời, thương người tín dụng tảo tần cho vay dựng nước, giúp dân; thương người thanh toán quốc tế, người kiểm soát, người tiết kiệm, người bảo vệ sớm chiều canh gác, người hành chính làm dâu trăm họ, và thương cả người lãnh đạo sớm chiều lo toan. Từ người gác cổng đến người đứng đầu, không một ai bị bỏ quên. Đó là một bản danh sách của lòng biết ơn, viết theo khuôn ca dao “mười thương” của dân tộc.

Và nghĩa tình của ngôi nhà ấy được cất giữ trong những kỷ vật nhỏ đến nao lòng. Trần Huy Toàn, trong “Chiếc vỏ chăn xưa”, kể rằng năm 1973, ngày ông xây dựng gia đình giữa chiến tranh thiếu thốn, đồng đội đã may tặng ông một chiếc vỏ chăn ghép từ mười chiếc khăn vuông. Mười chiếc khăn ấy sưởi ấm vợ chồng, con cái ông qua bao mùa gió rét. Nay đã có nhiều thứ chăn đệm êm, ông vẫn giặt phơi chiếc vỏ cũ vá sờn, giữ lại để nhắc mình và nhắc các con: “mãi nồng ấm trong ta là tình nghĩa con người.” Còn Đức Nhượng, trong “Thăm lại Sơn La”, trở về thị xã ba bề núi đá của một thời trai trẻ để nhớ lại “Những đêm chuyển tiền vượt qua bom đạn”. Ở đây, ký ức của người trong cuộc và khung cảnh của thơ là một.

Những câu thơ ấy không phải là khẩu hiệu. Nhưng chúng làm được điều mà nhiều khẩu hiệu không làm được: đưa yêu cầu liêm chính, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” mà Đảng ta kiên trì đòi hỏi ở mỗi cán bộ, đảng viên, vào ngôn ngữ của chính người trong nghề, bằng hình ảnh của chính đời sống nghề. Một cán bộ trẻ có thể quên một điều khoản quy chế, nhưng khó quên hình ảnh người vợ ngồi giữa bàn đầy tiền mà trưa về vẫn quả trứng, mớ rau. Đó là giáo dục đạo đức bằng cái đẹp - con đường mà Nghị quyết số 23-NQ/TW gọi là vai trò “xây dựng nền tảng tinh thần” của văn học nghệ thuật.

“Con cháu Bác Hồ, trọn đời trong sạch”

Hình ảnh Bác Hồ là một mạch lớn trong thơ của các cây bút vườn nhà BIDV. Vũ Tiến Độ, trong “Nói chuyện cùng con”, để người cha sắp nghỉ hưu dặn con nối nghiệp một điều duy nhất: dù làm việc gì cũng đừng quên lời Bác dạy - kiệm, cần, liêm, chính, chí công vô tư. Trong trường ca “Có một dòng sông BIDV”, khi Trần Nguyệt Quỳnh Hoa liệt kê những công trình mang dấu đồng vốn của ngành, chị mở đầu bằng đúng một câu: “Ai về thăm Lăng Bác” - rồi mới đến cầu Thăng Long, hồ Dầu Tiếng.

Nhưng câu chuyện cảm động nhất là một cuộc đối đáp bằng thơ kéo dài qua hai tuyển tập. Tháng 4/1997, chị Trần Thị Hiền viết bài “Hoài niệm” tặng người thầy dạy môn Kế toán Ngân hàng, nhớ những ngày “quên cám dỗ để từng trang cân đối”, nhớ “ngọn lửa nghề thắp lên từ ánh mắt” của thầy. Người thầy - nhà thơ Nguyễn Truyền - đã trả lời, cũng bằng thơ, bài “Kỷ niệm xưa”. Ông thành thật thừa nhận đời sống ngân hàng “cũng áo cơm tiền gạo”, “lắm lúc cũng bèo dạt mây trôi”, rồi khẳng định điều duy nhất ông muốn khẳng định:

“Nhưng từ ấy đến nay, vẫn tôi là tôi / Con cháu Bác Hồ, trọn đời trong sạch.”

Hai mươi bốn năm sau bài giảng cuối cùng, người thầy vẫn thấy cần nói với người học trò cũ rằng ông đã sống trong sạch. Không ai hỏi ông điều đó. Người học trò tri ân bằng thơ; người thầy đáp lại không phải bằng lời khen, mà bằng một bản kê khai đạo đức của chính đời mình.

Đó chính là hình ảnh đẹp nhất của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mà Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị đã đề ra: không phải học thuộc, mà sống theo, và sẵn sàng chịu trách nhiệm suốt đời trước người khác về việc mình có sống đúng điều mình đã dạy hay không. Tấm gương ấy không được treo từ trên xuống. Nó được chuyền tay từ người này sang người khác - qua một bài thơ cha viết cho con, một bài thơ thầy đáp lại trò.

Con ong - hình ảnh tự họa của cả một tập thể

Đọc dọc hai tuyển tập, có một hình ảnh trở đi trở lại đến mức không thể là ngẫu nhiên: con ong. Khởi đầu là câu hát quen thuộc của nhiều thế hệ người BIDV: “Như con ong đi tìm hoa lấy mật / Dâng cho đời vị ngọt và hương thơm”. Tạ Văn Khuyến viết “Con ong làm mật tìm hoa dâng đời”. Bùi Thị Xuân Lam gọi các nữ đồng nghiệp là “những con ong chuyên cần, những cô Tấm đảm đang”. Lê Xuân Đạm tả cô gái đầu tư “Lặng thầm tần tảo cánh ong”. Người mẹ trong bài “Thơ viết cho con” của Võ Thị Thu Trang dặn con rằng nghề của mẹ “Như con ong mang mật ngọt cho đời”. Và ở thế hệ hôm nay, chị Hoàng Thị Bích Thủy tự ví mình và đồng nghiệp là “những con ong chăm chỉ góp nhặt thầm lặng, như những nốt trầm xao xuyến hòa trong bản anh hùng ca BIDV”.

Từ người đứng đầu ngân hàng đến người mẹ trẻ ở phố núi, tất cả cùng chọn một hình ảnh để nói về mình - không phải con hổ, con đại bàng, không phải bất cứ biểu tượng nào của quyền lực, mà là con ong: bé nhỏ, chuyên cần, lặng lẽ, và làm ra mật cho người khác. Một tập thể mấy vạn người, qua bảy thập kỷ, không ai bảo ai mà cùng chọn đúng một hình ảnh khiêm nhường ấy - điều mà không một chiến dịch truyền thông nào tạo ra nổi.

Hình ảnh ấy cũng là một cách hiểu rất Việt Nam về tinh thần phục vụ nhân dân: lao động cần mẫn, không phô trương, và thành quả dành cho người khác. Khi một tổ chức tự họa mình bằng con ong chứ không bằng biểu tượng của quyền lực, đó là dấu hiệu của một văn hóa đã thấm lời dạy “làm việc gì có lợi cho dân” vào tận cách tự nhìn mình.

“Chúng con cảm ơn ai?”

Có một góc nhìn nữa, có lẽ cảm động nhất: chân dung người cán bộ ngân hàng được vẽ bởi chính những người thụ hưởng đồng vốn. Bùi Hải Bình, trong “Đồng tiền xóa đói”, mượn ca dao “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” mà mở đầu, rồi nhìn đàn lợn béo, ao cá quẫy, vườn xanh cây mà nhớ ngân hàng đã cho vay: “Đồng tiền xóa đói những ngày đầu tiên!” Nguyễn Viết Mạch, Giám đốc chi nhánh Ba Đồn, dựng lại cảnh lũ miền Trung ngập trắng, rồi giữa cảnh ấy hiện lên một hình ảnh làm ta lặng đi: “Cán bộ Ngân hàng theo lũ xuống”. Bài thơ khép bằng một câu giản dị như nét hồng bếp lửa: “Đồng tiền đi, ấm áp tình người.”

Nhưng bài thơ khiến ta rưng rưng nhất là “Vốn” của Lý Hoài Xuân, kể qua đôi mắt một đứa trẻ. Nhớ năm nào giáp Tết, nét mặt cha buồn rầu vì nhà máy hết việc, cả nhà dùng cơm rau. Rồi một năm khác, Tết chưa đến mà mai đã thầm khoe hoa, lương tháng cha gấp bội - bởi nhà máy cha lớn mạnh nhờ vốn vay ngân hàng. Đứa trẻ kết bài bằng một câu hỏi ngây thơ mà thấu tận tim gan người làm nghề: “Chúng con cảm ơn ai?”

Người cán bộ tín dụng ấy sẽ chẳng bao giờ biết có một đứa trẻ nào đó, ở một xóm nhỏ nào đó, đã hỏi câu ấy về mình. Và có lẽ, đó chính là phần thưởng cao quý nhất của nghề: được biết ơn bởi những người không biết tên mình.

Câu hỏi của đứa trẻ cũng là câu trả lời cho câu hỏi lớn về sứ mệnh của một ngân hàng thương mại nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng: đồng vốn không tự nó có giá trị; giá trị của nó nằm ở chỗ nó làm cho bữa cơm của một gia đình công nhân bớt đạm bạc, làm cho một làng quê sau lũ có lại mái nhà. “Đằng sau các con số là hạnh phúc của đồng bào” - câu thơ của Vũ Quần Phương, đến đây, không còn là một nhận xét văn chương, mà là một định nghĩa về lý tưởng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân của người làm ngân hàng.

Xem thêm:

> Kỳ 2 - Khi ngôn từ bất lực thì âm nhạc lên tiếng

> Kỳ 3 - Từ lời kể đến kế hoạch hành động

Ngô Thị Giáng Hương - Đào Bùi Kiều Linh

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/dang-sau-nhung-con-so-ky-1-188383.html