Danh sách thôn đặc biệt khó khăn mới: Ai có thể 'rơi' khỏi diện thụ hưởng chính sách?
Danh sách mới về thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn giai đoạn 2026-2030 không chỉ phản ánh sự thay đổi về địa bàn sau sắp xếp, sáp nhập mà còn cho thấy một bài toán chính sách mới.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo vừa ban hành Quyết định 803/QĐ-BDTTG ngày 20/9/2026 công bố Danh sách thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thôn đặc biệt khó khăn giai đoạn 2026-2030 (đợt 1).
Danh sách mới thay thế các danh sách tương ứng đã được công bố, sửa đổi, bổ sung tại các Quyết định: 60/QĐ-BDTTG ngày 29/1/2026, 104/QĐ-BDTTG ngày 27/2/2026 và 255/QĐ-BDTTG ngày 8/5/2026 đối với các tỉnh, thành phố có danh sách được công bố lần này.
Phía sau sự thay đổi về số lượng, tên gọi và phân loại địa bàn, nhu cầu hỗ trợ của người dân không phải lúc nào cũng thay đổi tương ứng. Thực tế này đặt ra yêu cầu chính sách phải theo sát địa bàn mới, đồng thời đủ linh hoạt để nhận diện đúng những khác biệt và nhu cầu còn tồn tại bên trong.

Theo Quyết định 803/QĐ-BDTTG, toàn tỉnh Điện Biên có 888 thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, có 632 thôn đặc biệt khó khăn. Trong ảnh: Một góc xã Núa Ngam, tỉnh Điện Biên - Ảnh: UBND xã Núa Ngam
Sau sáp nhập, địa bàn khó khăn vẫn là bài toán lớn
Một điểm đáng chú ý trong danh sách vừa được công bố là số lượng thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ở các địa phương giảm mạnh so với đầu năm 2026, khi Quyết định 60/QĐ-BDTTG được ban hành.
Tuy nhiên, số lượng thôn đặc biệt khó khăn giảm chưa tương xứng với mức giảm tổng số đơn vị cấp thôn. Ở một số địa phương, sau sắp xếp, sáp nhập, tỷ trọng thôn đặc biệt khó khăn trong tổng số thôn, tổ dân phố còn tăng lên.
Tại Điện Biên, sự thay đổi này thể hiện khá rõ. Theo Quyết định 803/QĐ-BDTTG, toàn tỉnh Điện Biên có 888 thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó 632 thôn đặc biệt khó khăn.
Công bố danh sách thôn vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2026-2030Xem chi tiết
Trước đó, theo danh sách được phê duyệt tại Quyết định 60/QĐ-BDTTG, tỉnh có 1.446 thôn, trong đó có 923 thôn đặc biệt khó khăn.
Như vậy, so với đầu năm 2026, Điện Biên giảm 558 thôn (tương đương 38,6%), số thôn đặc biệt khó khăn giảm 291 thôn (tương đương 31,5%). Mức giảm giữa hai nhóm chênh nhau 7,1 điểm phần trăm.
Đáng chú ý, trong quá trình sắp xếp, sáp nhập, số thôn đặc biệt khó khăn có thể giảm, nhưng tỷ trọng của nhóm này trong tổng số thôn, tổ dân phố lại tăng. Xu hướng này không chỉ xuất hiện ở các xã mà còn hiện diện tại các phường trung tâm.
Tại Mường Lay, đầu năm 2026, toàn phường có 47 thôn, tổ dân phố, trong đó 11 thôn đặc biệt khó khăn, chiếm 23,4%. Từ tháng 9/2026, số thôn, tổ dân phố giảm còn 25, nhưng số thôn đặc biệt khó khăn chỉ giảm xuống 9, nâng tỷ trọng từ 23,4% lên 36%.
Địa bàn mới, những khác biệt chưa biến mất
Không riêng Điện Biên, theo Quyết định 803/QĐ-BDTTG vừa được Bộ Dân tộc và Tôn giáo công bố, tại nhiều địa phương, số đơn vị cấp thôn giảm mạnh sau sắp xếp, sáp nhập, trong khi tỷ trọng thôn đặc biệt khó khăn trong tổng số đơn vị còn lại lại tăng lên.
Đơn cử, tại Đắk Lắk, tỷ trọng thôn đặc biệt khó khăn tăng từ 29,67% đầu năm 2026 lên 37,3% hiện nay; tại Nghệ An, từ 42,5% lên hơn 52,2%.
Điều đó cho thấy đây không chỉ là biến động riêng của một địa phương, mà là hệ quả cần được tính đến khi xác định địa bàn và triển khai chính sách trong bối cảnh đơn vị cấp thôn được tổ chức lại trên quy mô lớn.
Những thay đổi này đồng thời cho thấy, cùng với việc tổ chức lại đơn vị dân cư, bài toán xác định địa bàn và thiết kế chính sách hỗ trợ đặc thù cũng cần được nhìn nhận theo cấu trúc địa bàn mới.
Vấn đề cần lưu ý không chỉ là số lượng thôn đặc biệt khó khăn sau sáp nhập còn bao nhiêu, mà là việc thay đổi địa giới, quy mô và tên gọi đơn vị dân cư có thể làm thay đổi “địa chỉ” thụ hưởng chính sách. Trong khi mức độ khó khăn trên thực tế chưa thay đổi tương ứng.
Đơn cử tại xã Sáng Nhè của tỉnh Điện Biên, Sín Sủ hiện là thôn thuộc khu vực II. Nhưng đây lại là thôn mới được thành lập trên cơ sở sáp nhập hai bản khu vực III trước đây là Sín Sủ 1 và Sín Sủ 2.
Tương tự là bản Tân Ngam, xã Núa Ngam (Điện Biên). Đây là bản khu vực II mới hình thành trên cơ sở sáp nhập 3 bản (Pá Bông, Hợp Thành, Tân Ngam); trong đó Pá Bông là bản đặc biệt khó khăn, 2 bản còn lại thuộc khu vực II.
Những trường hợp này không đồng nghĩa với việc phân loại địa bàn mới là không phù hợp. Nhưng chúng cho thấy, khi một đơn vị mới được hình thành từ những địa bàn có mức độ phát triển khác nhau, một tiêu chí phân loại chung có thể chưa phản ánh hết sự khác biệt bên trong.
Không để ranh giới hành chính che khuất nhu cầu thực tế
Phía sau sự thay đổi về số lượng và phân loại đơn vị hành chính là một vấn đề lớn hơn đối với chính sách. Đó là nhu cầu thực tế của người dân không phải lúc nào cũng thay đổi cùng ranh giới hành chính.
Trường hợp xã Mường Phăng, tỉnh Điện Biên là một ví dụ. Sau khi hợp nhất ba xã: Mường Phăng, Nà Nhạn và Pá Khoang, xã Mường Phăng mới được xác định là khu vực II, không có thôn đặc biệt khó khăn.
Nhưng điều này không có nghĩa mọi khu dân cư, mọi hộ gia đình và mọi học sinh ở Mường Phăng đều có điều kiện tiếp cận dịch vụ công như nhau. Ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, địa hình và điều kiện giao thông có thể tạo ra những rào cản riêng, nhất là với học sinh.
Tại Trường THCS Võ Nguyên Giáp ở xã Mường Phăng, 309/1.257 học sinh có nhà cách trường từ 7-15km. Khoảng cách lớn, điều kiện đi lại khó khăn khiến một bộ phận học sinh phải ở lại trường, kéo theo nhu cầu tổ chức ăn, ở và bảo đảm điều kiện sinh hoạt trong những ngày học tập.

Đầu năm học 2026-2027, hiệu trưởng nhà trường đã phải viết thư ngỏ kêu gọi hỗ trợ gạo, thực phẩm để duy trì bữa ăn cho các em nhà xa trường. Ảnh: Trường THCS Võ Nguyên Giáp
Trong khi đó, toàn trường chỉ có 11 học sinh thuộc diện hưởng chính sách theo Nghị định 66/2025/NĐ-CP. Đầu năm học 2026-2027, hiệu trưởng nhà trường đã phải viết thư ngỏ kêu gọi hỗ trợ gạo, thực phẩm để duy trì bữa ăn cho các em nhà xa trường.
Trường hợp ở Mường Phăng cho thấy sau khi địa bàn được tổ chức lại, việc nhận diện nhu cầu có thể cần thêm những tiêu chí cụ thể hơn. Yêu cầu nhìn chính sách từ điều kiện thực tế của người học cũng đã được đặt ra trong Công điện 62/CĐ-TTg ngày 31/8/2026 của Thủ tướng Chính phủ.
Công điện yêu cầu rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh các chính sách liên quan; trong đó, chính sách đối với học sinh bán trú cần tính đến nơi cư trú, khoảng cách, điều kiện giao thông, địa hình và điều kiện thực tế của người học.
Đây cũng là gợi mở quan trọng khi danh sách địa bàn giai đoạn 2026–2030 đang được cập nhật. Địa bàn vẫn là căn cứ để thực hiện chính sách, nhưng trong những đơn vị mới hình thành sau sắp xếp, việc nhận diện nhu cầu cụ thể bên trong địa bàn sẽ ngày càng quan trọng.
Từ thực tế trên, việc cập nhật danh sách địa bàn giai đoạn 2026–2030 cần đi cùng với rà soát cách xác định đối tượng và nhu cầu thụ hưởng chính sách.
Với những đơn vị mới hình thành từ các thôn, bản có mức độ phát triển khác nhau, cần bổ sung các tiêu chí phản ánh nơi cư trú, khoảng cách, giao thông, địa hình và khả năng tiếp cận dịch vụ công; đồng thời có cơ chế chuyển tiếp phù hợp để quyền lợi của người dân không bị gián đoạn do thay đổi địa giới, tên gọi.
Về lâu dài, quản lý chính sách cần dựa trên hệ thống dữ liệu đủ chi tiết đến từng địa bàn, nhóm dân cư và đối tượng thụ hưởng, để chính sách không chỉ “đúng địa chỉ” mà còn đúng nhu cầu thực tế.
