Kết hợp nông nghiệp và cải thiện dinh dưỡng cho bà mẹ, trẻ em dân tộc thiểu số
Mô hình kết hợp phát triển sản xuất nông nghiệp với cải thiện dinh dưỡng ở Sơn La đã ghi nhận những thay đổi về nguồn thực phẩm, thực hành dinh dưỡng và tình trạng dinh dưỡng của trẻ em.
Ngày 24/9, Tổ chức Cứu trợ Trẻ em (Save the Children Việt Nam) phối hợp với Ban Quản lý Dự án tỉnh Sơn La tổ chức Hội thảo chia sẻ và nhân rộng kết quả, bài học kinh nghiệm từ dự án "Cải thiện sinh kế của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Sơn La thông qua nông nghiệp và cải thiện dinh dưỡng".
Chương trình được tài trợ bởi Bộ Ngoại giao Nhật Bản (JMOFA), triển khai từ năm 2023–2026 tại 5 xã Tà Xùa, Xím Vàn, Pắc Ngà, Sốp Cộp và Púng Bánh, tỉnh Sơn La.
Phát biểu tại hội thảo, ông Vương Đình Giáp, Giám đốc Thực hiện Chương trình Tổ chức Cứu trợ Trẻ em tại Việt Nam cho rằng, việc triển khai dự án trong 3 năm, tương đương khoảng 1.000 ngày, cho thấy các chương trình can thiệp về trẻ em cần có thời gian đầu tư đủ dài để tạo ra thay đổi.
Theo ông Giáp, đây cũng là giai đoạn quan trọng đối với sự phát triển của trẻ em, do đó để đạt được kết quả cần có sự cam kết của nhiều bên và quá trình thực hiện kiên trì.

Quang cảnh hội thảo. Ảnh: Hưng Phạm
Từ thực tế triển khai tại Sơn La, điểm đáng chú ý của mô hình là sự kết hợp giữa dinh dưỡng và nông nghiệp, đồng thời tính đến yếu tố bình đẳng giới và điều kiện văn hóa của địa phương. Việc hỗ trợ các hộ gia đình chủ động sản xuất lương thực, thực phẩm tại chỗ có thể góp phần cải thiện nguồn thực phẩm phục vụ bữa ăn của bà mẹ và trẻ em.
Trong 3 năm thực hiện, đội ngũ cán bộ dự án đã làm việc trực tiếp với cha mẹ, trẻ em và người chăm sóc trẻ tại 5 xã vùng dự án. Theo ông Giáp, những kết quả đạt được là cơ sở để các bên tiếp tục trao đổi về khả năng duy trì và áp dụng những cách làm phù hợp tại các địa bàn có điều kiện tương đồng.
Phối hợp y tế, nông nghiệp, chính quyền địa phương và cộng đồng
Một nội dung được chia sẻ tại hội thảo là những thay đổi trong thực hành chăm sóc và dinh dưỡng trẻ em tại các hộ gia đình. Anh Tòng A Tin, bản Liềng, xã Púng Bánh, tỉnh Sơn La cho biết: "Các cán bộ y tế, phụ nữ bản đã hướng dẫn chúng tôi cách chăm sóc các con, như giữ chân, tay, miệng sạch sẽ; các con được cân, đo mỗi tháng một lần để theo dõi chiều cao, cân nặng".
Chị Lò Thị Ngân, Hốc Một, xã Sốp Cộp, tỉnh Sơn La chia sẻ: "Em dùng trứng gà nhà nuôi, rau nhà trồng để nấu cháo cho con. Mình tự nấu cho các con, con ăn khỏe hơn".
Những chia sẻ này cho thấy việc tăng khả năng tự sản xuất thực phẩm tại hộ gia đình có thể gắn trực tiếp với thay đổi trong bữa ăn và chăm sóc trẻ. Đây cũng là một trong những nội dung được các đại biểu thảo luận khi đánh giá khả năng duy trì mô hình sau khi dự án kết thúc.

Thực hành dinh dưỡng chăm sóc trẻ cho bà mẹ vùng dân tộc thiểu số. Ảnh: Huệ Linh
PGS.TS Trương Tuyết Mai, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng cho biết, tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi trên toàn quốc đã giảm; tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng, thiếu máu ở phụ nữ và trẻ em cũng có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa các khu vực vẫn còn lớn, đặc biệt tại các địa bàn miền núi, vùng khó khăn.
Theo số liệu mới nhất của Viện Dinh dưỡng, cả nước vẫn còn 10 tỉnh có tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi trên 20%. Sơn La ở mức 25%, trong khi Cao Bằng và Tuyên Quang thuộc nhóm cao nhất, khoảng 27–28%. Đây là tỷ lệ trung bình của toàn tỉnh; tại một số xã vùng III, kết quả cân đo trẻ cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi có nơi lên tới 50–60%.
Về thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ, tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ tại các tỉnh miền núi tương đối tốt so với mặt bằng chung. Tuy nhiên, thực hành ăn bổ sung đúng cách vẫn còn thấp, đặc biệt tại các khu vực có tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi cao.
Kết quả đánh giá tại 5 xã triển khai dự án cho thấy sự cải thiện rõ rệt về thực hành chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ. Tỷ lệ trẻ được ăn đa dạng tối thiểu tăng từ khoảng 36% lên gần 80%. "Đây là một thay đổi quan trọng, bởi thực hành dinh dưỡng của gia đình là một trong những yếu tố có ý nghĩa đối với việc cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng lâu dài ở trẻ em", PGS.TS Trương Tuyết Mai nói.
Bên cạnh các biện pháp bổ sung vi chất và những hỗ trợ khác, sự thay đổi về kiến thức và thực hành chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ là một kết quả đáng ghi nhận của dự án.
Về an ninh thực phẩm, chuyên gia dinh dưỡng cho hay, dù dự án đã tạo ra những chuyển biến tích cực, an ninh thực phẩm trên phạm vi cả nước vẫn ở mức trung bình và còn chịu nhiều rủi ro, trong đó có tác động của biến đổi khí hậu. Đây là vấn đề cần được quan tâm và đầu tư thường xuyên.

Các hộ gia đình dân tộc thiểu số đã có những chuyển biến tích cực trong thực hành chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Ảnh: Huệ Linh
Tại hội thảo, các đại biểu đề xuất tiếp tục nghiên cứu, lồng ghép những mô hình phù hợp vào các chương trình và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, trong đó có các chương trình liên quan đến giảm nghèo, phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và cải thiện dinh dưỡng.
Các ý kiến cũng nhấn mạnh việc duy trì sự phối hợp giữa ngành y tế, nông nghiệp, chính quyền địa phương và cộng đồng là yếu tố quan trọng để các kết quả về sinh kế và dinh dưỡng có thể được duy trì sau khi dự án kết thúc.
Với cách tiếp cận đa ngành nhằm cải thiện sinh kế và dinh dưỡng cho các hộ gia đình dân tộc thiểu số, chương trình tập trung vào hai nhóm hoạt động chính là phát triển sản xuất nông nghiệp và cải thiện dinh dưỡng cho bà mẹ, trẻ em. Các hoạt động hỗ trợ hộ gia đình và nhóm sản xuất nâng cao năng lực sản xuất, đa dạng hóa nguồn thực phẩm và tăng cường liên kết thị trường; đồng thời nâng cao kiến thức, thực hành dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai, bà mẹ nuôi con nhỏ và trẻ em.
Bên cạnh đó, lồng ghép các nội dung về bình đẳng giới, cải thiện hạ tầng giao thông nông thôn và tăng cường sự tham gia của cộng đồng. Cách tiếp cận này nhằm tác động đồng thời đến các yếu tố liên quan đến sinh kế, an ninh lương thực và dinh dưỡng của hộ gia đình.
Sau 3 năm triển khai dự án, giá trị kinh tế từ sản xuất nông nghiệp tăng 67,8%, từ 4,01 triệu đồng lên 6,73 triệu đồng/hộ/6 tháng.
Tỷ lệ hộ chăn nuôi gia cầm tăng từ 67,4% lên 98,5%; hộ sản xuất rau tăng từ 19,8% lên 72,5%.
Tỷ lệ trẻ 6–23 tháng tuổi được ăn ít nhất 4 nhóm thực phẩm tăng từ 33,7% lên 82,5%; tỷ lệ trẻ dưới 2 tuổi bị suy dinh dưỡng thấp còi giảm từ 35,6% xuống khoảng 18,7%.
80,6% hộ được khảo sát cho biết vợ chồng cùng thảo luận về chi tiêu, sản xuất nông nghiệp và chăm sóc trẻ.
94,5% cho biết sẽ tiếp tục duy trì ít nhất một phần hoạt động sinh kế được hỗ trợ.



