'Đánh thức' di sản bằng công nghệ số
Trong dòng chảy của kỷ nguyên số, di sản văn hóa Thủ đô không còn 'nằm yên' trong bảo tàng, hay những trang tư liệu khô cứng, mà đang được 'đánh thức' bằng các phương thức sáng tạo mới.
Từ số hóa dữ liệu, ứng dụng công nghệ đến sự tham gia của cộng đồng sáng tạo, Hà Nội đang từng bước chuyển mình từ tư duy “lưu giữ” sang “khai thác và phát triển”, mở ra hướng đi bền vững cho di sản trong đời sống đương đại.
Đưa di sản “xuống phố” bằng công nghệ
Hà Nội - vùng đất nghìn năm văn hiến - hiện sở hữu gần 6.500 di tích cùng hơn 1.800 di sản văn hóa phi vật thể, là địa phương có quy mô di sản lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, việc bảo tồn theo cách truyền thống đã không còn đáp ứng yêu cầu đưa di sản đến gần công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Tour đêm “Ngọc Sơn - Đêm huyền bí” kết hợp giữa sân khấu thực cảnh, mỹ thuật sắp đặt và các hiệu ứng âm thanh, ánh sáng, công nghệ trình chiếu mang đến trải nghiệm hấp dẫn cho du khách. Ảnh: Viết Thành
Từ yêu cầu thực tiễn đó, một làn sóng sáng tạo mới đang hình thành, với sự tham gia tích cực của các cá nhân, nhóm sáng tạo trẻ. Họ không chỉ “giữ gìn”, mà còn chủ động “tái sinh” di sản bằng ngôn ngữ số, đưa các giá trị văn hóa bước ra khỏi không gian trưng bày tĩnh để hòa vào nhịp sống hiện đại.
Tiêu biểu là dự án “Họa sắc Việt” do họa sĩ Trịnh Thu Trang khởi xướng. Sau hơn một thập kỷ nghiên cứu và phục dựng họa tiết tranh Hàng Trống, nhóm đã hệ thống hóa các hoa văn thành dữ liệu số với độ chính xác cao. Từ đó, những họa tiết từng chỉ tồn tại trong tranh dân gian nay có thể xuất hiện trên bao bì sản phẩm, thiết kế đồ họa, thời trang, thậm chí, tham gia vào chuỗi giá trị hàng hóa xuất khẩu.
“Trong kỷ nguyên số, di sản cần một "hình hài mới" để có thể tồn tại và phát triển. Khi được số hóa, các giá trị truyền thống không chỉ được bảo tồn, mà còn có cơ hội tham gia trực tiếp vào đời sống kinh tế - văn hóa hiện đại”, họa sĩ Trịnh Thu Trang chia sẻ.
Cùng với đó, dự án “Các hành trình du lịch di sản Hà Nội” do bà Nguyễn Thị Hiệp điều phối đã mở ra cách tiếp cận hoàn toàn mới. Thông qua mã QR, du khách chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh là có thể tự mình khám phá các câu chuyện lịch sử, kiến trúc, văn hóa được tích hợp ngay tại điểm đến.
Cách làm này không chỉ nâng cao trải nghiệm, mà còn biến mỗi di tích trở thành một “bảo tàng mở”, nơi quá khứ và hiện tại giao thoa trong không gian số. “Công nghệ chính là nhịp cầu giúp xóa nhòa khoảng cách giữa di sản và công chúng”, bà Hiệp nhấn mạnh.
Để di sản “sống”, cần câu chuyện và sự sáng tạo
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, không phải mọi dự án số hóa đều có thể tạo được sức sống lâu dài cho di sản. Theo giám tuyển Nguyễn Thế Sơn, giảng viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội, yếu tố quyết định không nằm ở công nghệ, mà ở cách kể chuyện và chiều sâu nội dung.
Ông cho rằng, việc ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực di sản cần được định hướng theo hai hướng chính. Thứ nhất là xây dựng các không gian trưng bày hiện đại, nơi công nghệ được tích hợp để nâng cao trải nghiệm. Thứ hai là khai thác chính những khoảng trống, mất mát của di sản như một nguồn cảm hứng sáng tạo, từ đó tạo ra các hình thức biểu đạt mới.
“Công nghệ có thể giúp kể lại những câu chuyện mà trước đây chưa từng được truyền tải. Những chi tiết mỹ thuật tưởng như đã mất có thể được ‘làm sống lại’, những bức tranh tĩnh có thể trở nên sinh động qua các nền tảng số”, giám tuyển Nguyễn Thế Sơn phân tích.

Tour đêm “Tinh hoa đạo học” tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Ảnh: Viết Thành
Thực tế đã chứng minh, nhiều ứng dụng như trình chiếu 3D mapping, thực tế ảo… có thể tạo ra trải nghiệm trực quan, hấp dẫn, đặc biệt với giới trẻ - nhóm công chúng vốn ít gắn bó với các hình thức trưng bày truyền thống.
Tuy nhiên, nếu quá lạm dụng công nghệ, di sản rất dễ bị “trình diễn hóa”, trở thành sản phẩm giải trí thuần túy, thiếu chiều sâu văn hóa. Đây là cảnh báo được nhiều chuyên gia nhấn mạnh.
Theo giám tuyển Nguyễn Thế Sơn, để tránh nguy cơ này, nội dung, câu chuyện và nền tảng nghiên cứu phải luôn là yếu tố cốt lõi. Công nghệ chỉ đóng vai trò phương tiện, không thể thay thế giá trị văn hóa nguyên bản.
Liên ngành - chìa khóa để phát huy giá trị di sản
Một trong những hướng đi được các chuyên gia đánh giá cao hiện nay là tiếp cận liên ngành trong sáng tạo nghệ thuật. Thay vì khai thác riêng lẻ từng loại hình, việc kết hợp hội họa, âm nhạc, sân khấu, công nghệ… trong một chỉnh thể thống nhất sẽ mở ra nhiều khả năng mới cho di sản.
Theo giám tuyển Nguyễn Thế Sơn, chính sự giao thoa này giúp tạo nên những sản phẩm vừa giàu tính nghệ thuật, vừa gần gũi với công chúng hiện đại.
“Nếu chỉ dừng lại ở từng lĩnh vực riêng lẻ, rất khó tạo ra sức hút bền vững. Ngược lại, liên ngành sẽ giúp di sản được kể lại theo cách sinh động hơn, nhưng vẫn giữ được cốt lõi giá trị”, giám tuyển Nguyễn Thế Sơn nói.

Du khách trải nghiệm ứng dụng công nghệ số kết hợp trưng bày tại Bảo tàng Hà Nội. Ảnh: Hoàng Quyên
Quan điểm này cũng nhận được sự đồng thuận từ các nhà quản lý. Tiến sĩ Phạm Thị Lan Anh, Trưởng phòng Quản lý di sản, Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội cho rằng, để các sáng kiến sáng tạo phát triển, cần có cơ chế hỗ trợ rõ ràng, đồng thời, tăng cường sự kết nối giữa cơ quan quản lý, cộng đồng sáng tạo và doanh nghiệp công nghệ.
Thực tiễn từ Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội qua nhiều mùa tổ chức cho thấy, khi được tạo điều kiện, cộng đồng sáng tạo - đặc biệt là giới trẻ - có thể trở thành lực lượng tiên phong trong việc “làm mới” di sản.
Từ “lưu giữ” sang “khai thác và phát triển”
Dù đạt được nhiều kết quả tích cực, quá trình số hóa di sản tại Hà Nội vẫn còn những “nút thắt”. Một trong những hạn chế lớn nhất là nhiều hoạt động mới dừng lại ở việc lưu trữ dữ liệu, thiếu sự kết nối để hình thành hệ sinh thái đồng bộ. Điều này khiến các sản phẩm số hóa chưa phát huy hết giá trị, thậm chí bị “đóng băng” trong không gian kỹ thuật số, không tiếp cận được đông đảo công chúng.
Theo các chuyên gia, để khắc phục tình trạng này, cần thay đổi tư duy từ “lưu giữ” sang “khai thác và phát triển”. Số hóa không chỉ nhằm bảo tồn, mà phải hướng tới tạo ra giá trị mới - cả về văn hóa lẫn kinh tế.
Ba mục tiêu cần đạt được đồng thời là: Bảo tồn di sản, thúc đẩy sáng tạo và tạo ra giá trị gia tăng. Muốn vậy, cần xây dựng một hệ sinh thái văn hóa số hoàn chỉnh, trong đó, có sự tham gia của nhà nước, nghệ sĩ, doanh nghiệp và cộng đồng.

Du khách trải nghiệm công nghệ Leap motion (điều khiển chuyển động 3D) để khám phá nội dung của các cuốn sách tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Ảnh: Viết Thành
Thực tế, một số điểm đến như Bảo tàng Hà Nội, Hoàng thành Thăng Long đã bước đầu ứng dụng các công nghệ như thực tế ảo, 3D mapping… và ghi nhận hiệu quả tích cực. Khi nội dung được đầu tư bài bản, công nghệ sẽ trở thành công cụ mạnh mẽ giúp di sản “kể chuyện” và thu hút công chúng.
Nhìn về tương lai, Hà Nội đặt mục tiêu xây dựng một hệ sinh thái văn hóa số, nơi di sản không chỉ được bảo tồn, mà còn trở thành nguồn lực cho phát triển.
Trong hệ sinh thái đó, chính sách đóng vai trò “bà đỡ”, tạo hành lang pháp lý và cơ chế hỗ trợ; nghệ sĩ và cộng đồng sáng tạo là lực lượng trực tiếp “thổi hồn” cho di sản; doanh nghiệp công nghệ cung cấp giải pháp và nền tảng triển khai. Sự kết nối giữa ba yếu tố này sẽ quyết định thành công của quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa.
Có thể thấy, số hóa không phải là thay thế truyền thống bằng công nghệ, mà là tìm cho truyền thống một phương thức tồn tại mới trong thời đại số. Khi được tiếp cận đúng cách, di sản không chỉ “được giữ gìn”, mà còn “sống khỏe”, lan tỏa và tiếp tục tạo ra giá trị trong xã hội đương đại.
Hành trình “đánh thức” di sản bằng ngôn ngữ số vì thế không chỉ là câu chuyện của công nghệ, mà là câu chuyện của tư duy, sáng tạo và sự chung tay của toàn xã hội - để những giá trị nghìn năm của Thăng Long - Hà Nội tiếp tục được gìn giữ và tỏa sáng trong tương lai.
Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/danh-thuc-di-san-bang-cong-nghe-so-743254.html











