Đánh thức 'kho báu' nấm ở Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà
Giữa những cánh rừng nguyên sinh của Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà, từng cụm nấm nhỏ mọc lên từ lớp mùn ẩm ướt. Dưới tán rừng ấy đang ẩn chứa một 'kho báu' sinh học với nhiều loài nấm ăn và nấm dược liệu quý.

Dưới tán rừng Bidoup - Núi Bà có muôn loài trú ngụ, trong đó ẩn chứa "kho báu" nấm
Đi tìm những loài nấm quý
Trong gần 3 năm, các nhà khoa học đã tiến hành mở 10 tuyến điều tra xuyên rừng, lội suối, băng qua những khu rừng rậm để tìm kiếm và thu thập mẫu nấm. Kết quả ghi nhận 96 chủng, loài nấm ăn và nấm dược liệu thuộc 27 họ nấm, con số đó cho thấy sự phong phú của hệ sinh thái nơi đây.
ThS. Lê Viết Ngọc (Trường Đại học Đà Lạt) chủ nhiệm đề tài chia sẻ: “Có những loài nấm rất nhỏ, chỉ xuất hiện vài ngày sau mưa rồi biến mất. Cũng có những loài nấm to lớn bám chặt vào thân cây, qua năm qua tháng, tai nấm lớn như cái quạt, hóa gỗ. Các loài nấm muôn hình vạn trạng, có loài mọc trên cây, có loài mọc dưới đất, có loài ẩn mình sâu trong lớp lá dày đặc”.
Trong số đó, nhiều loài nấm dược liệu quý như: hắc chi Amauroderma, hồng chi Ganoderma, tử chi Humphreya hay hoàng chi Tomophagus, thường được người dân gọi chung là nấm linh chi rừng có giá trị kinh tế cao, đang bị khai thác mạnh trong tự nhiên và có nguy cơ biến mất. Nếu không có giải pháp bảo tồn và nhân giống kịp thời thì nguy cơ cạn kiệt là rất rõ ràng trong tương lai gần.
Vừa có giá trị về dược liệu, chứa đựng hàm lượng dược tính cao, nhiều loài nấm rừng Bidoup - Núi Bà còn có tiềm năng trở thành đặc sản địa phương, góp phần phát triển sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm. Chính vì vậy, mục tiêu của đề tài nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận thành phần loài, thống kê danh sách loài mà còn hướng tới bảo tồn nguồn gen và phát triển các mô hình nuôi trồng nấm bản địa.
Từ phòng thí nghiệm đến mô hình sản xuất
Sau khi thu thập mẫu ngoài tự nhiên, nhóm nghiên cứu tiến hành phân lập và lưu giữ giống nấm trong phòng thí nghiệm. Bằng các phương pháp hiện đại như: giải phẫu học, giải trình tự gen và kỹ thuật sinh học phân tử, các nhà khoa học đã xác định chính xác từng chủng loài. Kết quả, nhóm đã phân lập được 16 giống nấm bản địa, bao gồm những loài có tiềm năng cao như: mộc nhĩ Hòn Giao, bào ngư xám K’long - K’lanh, linh chi Đà Lạt, linh chi đen dịch đỏ, linh chi quế, nấm mối đen và hầu thủ Công Trời.
Từ các giống này, nhóm nghiên cứu xây dựng 7 quy trình nuôi trồng nấm hoàn chỉnh, từ khâu phân lập giống; nhân giống cấp 1, cấp 2, giống sản xuất; phôi chế nguyên liệu, đóng túi; thanh trùng; cấy giống; chăm sóc túi nấm; chăm sóc quả thể; đến thu hoạch và bảo quản sản phẩm. Tất cả với mong muốn biến những loài nấm rừng quý hiếm thành sản phẩm nuôi trồng bền vững, vừa bảo tồn được nguồn gen vừa tạo sinh kế cho người dân.

Nấm trong rừng Bidoup - Núi Bà bám chặt lấy thân cây
Đáng chú ý, đề tài đã xây dựng 3 mô hình trồng nấm linh chi Đà Lạt, trong đó có 1 mô hình tại Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà và 2 mô hình tại hộ dân. Những mô hình sản xuất này giúp người dân tiếp cận kỹ thuật mới, hiểu rõ giá trị của tài nguyên nấm bản địa và từng bước chuyển từ khai thác tự nhiên sang nuôi trồng. Đây là hướng đi rất phù hợp với định hướng phát triển kinh tế sinh thái của địa phương.
Tại buổi nghiệm thu đề tài, PGS.TS Lê Xuân Thám, Chủ tịch hội đồng khoa học nhận định: “Nếu tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, từ giống - nuôi trồng - chế biến - thương mại, các loài nấm bản địa hoàn toàn có thể trở thành sản phẩm đặc trưng của Lâm Đồng”.
Không chỉ dừng lại ở sản xuất, đề tài còn xây dựng bộ tiêu bản 64 × 2 mẫu nấm và biên soạn cuốn bản đồ giới thiệu 96 loài nấm ăn và nấm dược liệu của Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà, tạo nên một tài liệu khoa học quan trọng phục vụ nghiên cứu và giáo dục.











