Đánh thức nguồn lực từ các hội quần chúng
HNN.VN - Việc Ban Thường vụ Thành ủy Huế ban hành Kế hoạch tổ chức học tập, quán triệt, triển khai thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TW ngày 20/7/2026 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và phát huy vai trò của các hội quần chúng trong giai đoạn phát triển mới đặt ra một câu hỏi đáng suy nghĩ: trong một bộ máy nhà nước ngày càng tinh gọn, xã hội ngày càng phát triển và chuyên môn hóa cao, các hội quần chúng sẽ đứng ở đâu và đóng góp như thế nào?

Một chương trình nghệ thuật do Hội Âm nhạc thành TP. Huế và Chi hội Nhạc sĩ Việt Nam tổ chức.
Câu trả lời không còn chủ yếu nằm ở việc một địa phương có bao nhiêu hội, mỗi hội có bao nhiêu hội viên hay tổ chức được bao nhiêu cuộc họp, phong trào trong năm. Quan trọng hơn là mỗi hội tập hợp được nguồn lực gì, tạo ra sản phẩm nào và đóng góp thực chất ra sao cho cộng đồng.
Với Huế, vấn đề này càng có ý nghĩa. Bên cạnh hệ thống di sản đồ sộ, thành phố còn sở hữu một nguồn tài sản đặc biệt nằm trong chính con người: tri thức, kinh nghiệm, tay nghề, uy tín xã hội, các mối liên kết và tinh thần cống hiến được tích lũy qua nhiều thế hệ. Một phần không nhỏ nguồn lực ấy đang tập trung trong các hội nghề nghiệp, khoa học, văn hóa, xã hội có truyền thống lâu đời.
Vấn đề là làm thế nào để đánh thức nguồn lực đó và biến nó thành động lực phát triển.
Không để hội trở thành một cấp “hành chính” khác
Một tinh thần quan trọng của Kế hoạch là vừa tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vừa tôn trọng tính tự nguyện, tự quản, tự trang trải kinh phí, tự chịu trách nhiệm của các hội; đồng thời khắc phục tình trạng hành chính hóa, hình thức, dàn trải và hoạt động kém hiệu quả.
Hai yêu cầu ấy không đối lập nhau. Tăng cường sự lãnh đạo không có nghĩa biến hội thành một bộ phận hành chính. Lãnh đạo tốt phải tạo điều kiện để hội hoạt động đúng tôn chỉ, phát huy thế mạnh chuyên môn và sức sáng tạo của hội viên, qua đó đóng góp nhiều hơn cho xã hội.
Nguyên tắc được xác định khá rõ: Đảng lãnh đạo; Nhà nước quản lý; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tập hợp, định hướng, phối hợp; hội tự chủ, tự quản, hoạt động theo pháp luật và điều lệ. Đồng thời, phải khắc phục chồng chéo, làm thay chức năng của nhau và không hạn chế tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của tổ chức hội.
Đằng sau yêu cầu đó là một chuyển đổi đáng chú ý về tư duy: từ câu hỏi “quản lý hội như thế nào” sang “làm thế nào phát huy nguồn lực xã hội thông qua các hội”.
Trong xã hội hiện đại, nguồn lực trí tuệ không chỉ nằm trong cơ quan nhà nước. Một lực lượng lớn chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ, doanh nhân, nghệ nhân, người có uy tín đang làm việc ngoài khu vực công. Các tổ chức hội chính là một trong những thiết chế có khả năng tập hợp, kết nối và phát huy nguồn lực ấy.
Vì vậy, hội không nên trở thành một cấp “hành chính” khác, càng không thể tồn tại chủ yếu bằng các cuộc họp định kỳ và hoạt động phong trào. Giá trị của một tổ chức hội phải được đo trước hết bằng những gì tổ chức ấy đem lại cho hội viên, cộng đồng và sự phát triển.
Yêu cầu này càng cấp thiết khi Huế đang vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Bộ máy nhà nước tinh gọn hơn không có nghĩa đời sống xã hội thu hẹp theo. Ngược lại, Nhà nước càng tinh gọn càng cần một xã hội có năng lực tự tổ chức cao, trong đó các hội nghề nghiệp, khoa học, xã hội hoạt động thực chất là một bộ phận quan trọng.

Trao giải Báo chí Hải Triều - giải thưởng do UBND thành phố phối hợp với Hội Nhà báo tổ chức hằng năm.
Uy tín phải được chuyển hóa thành sản phẩm
Một điểm mới đáng chú ý là cách tiếp cận đối với cơ chế hỗ trợ và đánh giá hoạt động hội.
Nhà nước hỗ trợ trên cơ sở nhiệm vụ cụ thể, sản phẩm đầu ra và hiệu quả xã hội; tăng cường giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu cung cấp dịch vụ công. Hiệu quả của hội cũng phải được đánh giá qua chất lượng phục vụ hội viên, khả năng huy động nguồn lực, sản phẩm tạo ra và mức độ đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ Nhân dân.
Nếu được thực hiện nhất quán, đây có thể là một bước chuyển căn bản.
Một hội có lịch sử lâu năm, đông hội viên nhưng hoạt động mờ nhạt, ít sản phẩm, ít đóng góp cho cộng đồng thì không thể chỉ dựa vào truyền thống để khẳng định vị thế. Ngược lại, một hội không quá đông nhưng quy tụ được chuyên gia giỏi, có những phản biện chính sách giá trị, những công trình nghiên cứu tốt, mô hình cộng đồng hiệu quả hoặc huy động được nguồn lực xã hội lớn cần được nhìn nhận tương xứng.
Nói cách khác, uy tín lịch sử phải được chuyển hóa thành năng lực hiện tại; truyền thống phải tạo ra giá trị mới.
Kế hoạch cũng đặt vấn đề rà soát, phân loại, củng cố, kiện toàn, sắp xếp, hợp nhất, giải thể hoặc chuyển đổi mô hình đối với những tổ chức không còn phù hợp. Đây là một quá trình sàng lọc cần thiết.
Điều cần giữ không phải bằng số lượng tổ chức hiện có, mà là làm cho những tổ chức thực sự cần thiết trở nên mạnh hơn, tự chủ hơn và hữu ích hơn.
Ba yêu cầu có thể xem như thước đo đối với hoạt động hội trong giai đoạn mới: Tự chủ – hiệu quả – trách nhiệm.
Tự chủ nhiều hơn phải đi cùng trách nhiệm cao hơn. Nhà nước không bao cấp bình quân cho sự tồn tại của một tổ chức, nhưng có thể giao nhiệm vụ, đặt hàng những hội có đủ năng lực thực hiện công việc mà Nhà nước và xã hội cần.
Đó không chỉ là sức ép đổi mới mà còn là cơ hội cho những tổ chức thực sự có năng lực khẳng định mình.
Lợi thế đặc biệt của Huế
Nhìn từ tinh thần Chỉ thị 11, Huế có một lợi thế không phải địa phương nào cũng có.
Là vùng đất có truyền thống lâu đời về văn hóa, giáo dục, khoa học và y tế, Huế đã hình thành qua nhiều thế hệ một đội ngũ đông đảo trí thức, nhà nghiên cứu, nhà giáo, thầy thuốc, văn nghệ sĩ, kiến trúc sư, luật gia, nhà báo, nghệ nhân, doanh nhân và những người có uy tín. Cùng với đó là nhiều hội nghề nghiệp, khoa học, văn hóa, xã hội có bề dày hoạt động và vị thế trong cộng đồng.
Tài sản lớn nhất của những tổ chức ấy không phải trụ sở hay kinh phí, mà là vốn xã hội.
Trước hết là vốn tri thức. Trong các lĩnh vực văn hóa, di sản, lịch sử, kiến trúc, quy hoạch, giáo dục, y tế, khoa học xã hội..., Huế có những chuyên gia đã dành hàng chục năm nghiên cứu và tích lũy kinh nghiệm. Có những tri thức được truyền qua nhiều thế hệ mà một cơ quan quản lý không dễ tạo dựng trong thời gian ngắn.
Tiếp đến là vốn uy tín. Đối với nhiều vấn đề của cộng đồng, tiếng nói của một tổ chức nghề nghiệp hoặc chuyên gia có uy tín có sức thuyết phục đặc biệt. Nếu được sử dụng đúng cách, đó còn là một kênh quan trọng tạo đồng thuận xã hội.
Một nguồn lực khác là vốn mạng lưới. Các hội có khả năng kết nối đội ngũ chuyên gia ở Huế với những người Huế đang sống, làm việc tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, các địa phương khác và nước ngoài; đồng thời mở rộng quan hệ với các tổ chức nghề nghiệp, khoa học trong nước và quốc tế.
Đây chính là một “mỏ tài nguyên” đặc biệt của Huế.
Trong những lĩnh vực có ý nghĩa sống còn đối với bản sắc và tương lai thành phố như bảo tồn di sản, kiến trúc - quy hoạch, cảnh quan, phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch bền vững, nghiên cứu lịch sử, bảo tồn nghề truyền thống..., các hội nghề nghiệp hoàn toàn có thể tham gia sâu hơn vào tư vấn, giám sát và phản biện.
Nhiều nhiệm vụ như nghiên cứu, khảo sát, giáo dục di sản, truyền thông cộng đồng, đào tạo - truyền nghề, xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành, tổ chức hoạt động khoa học - văn hóa, kết nối chuyên gia... cũng có thể nghiên cứu giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng cho những hội đủ năng lực.
Như vậy, vấn đề không còn là có nguồn lực hay không. Huế đã có nguồn lực. Vấn đề là thiết kế được cơ chế để biến tiềm năng thành sản phẩm, biến uy tín thành năng lực và biến trí tuệ của từng cá nhân thành sức mạnh chung của thành phố.

Huế có nguồn lực và nhiều hội nghề nghiệp, khoa học, văn hóa, xã hội có bề dày hoạt động.
Từ những hội truyền thống đến thiết chế tri thức hiện đại
Truyền thống là lợi thế, nhưng cũng có thể trở thành sức ì nếu chỉ được nhắc lại như một niềm tự hào. Thách thức của không ít tổ chức hội hiện nay là lực lượng nòng cốt ngày càng lớn tuổi, đội ngũ kế cận chưa mạnh, hình thức sinh hoạt chưa hấp dẫn người trẻ, khả năng ứng dụng công nghệ và khai thác dữ liệu còn hạn chế.
Bởi vậy, đổi mới hội không thể chỉ là sắp xếp lại bộ máy.
Câu hỏi cần đặt ra là: ai sẽ là thế hệ hội viên tiếp theo và tổ chức hội sẽ tạo ra giá trị gì trong 5 năm, 10 năm tới?
Kế hoạch yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, từng bước xây dựng, cập nhật, quản lý và liên thông cơ sở dữ liệu về tổ chức hội, hội viên; ứng dụng nền tảng số vào quản trị, điều hành, kết nối hội viên và cung cấp dịch vụ.
Huế có thể đi xa hơn một bước.
Thành phố nên nghiên cứu xây dựng bản đồ nguồn lực các hội quần chúng. Không chỉ thống kê tên hội, người đứng đầu hay số hội viên, mà cần nhận diện mỗi hội đang có những chuyên gia nào, thế mạnh chuyên môn gì, mạng lưới trong nước và quốc tế ra sao, có khả năng tư vấn lĩnh vực nào và có thể đảm nhận những nhiệm vụ công nào. Từ đó có thể hình thành một ngân hàng chuyên gia và nguồn lực xã hội của Huế.
Khi thành phố cần phản biện một đồ án quy hoạch, nghiên cứu một vấn đề di sản, xây dựng chính sách công nghiệp văn hóa, phát triển sản phẩm du lịch hay xử lý một vấn đề xã hội, nguồn chuyên gia phù hợp có thể được huy động nhanh chóng. Không phải mọi trí tuệ phục vụ sự phát triển của thành phố đều phải nằm trong biên chế nhà nước.
Cùng với số hóa phải là trẻ hóa. Những hội có truyền thống cần trở thành nơi thế hệ đi trước truyền lại tri thức, kinh nghiệm và tinh thần trách nhiệm cho lớp trẻ; đồng thời tạo không gian để người trẻ tham gia nghiên cứu, phản biện, sáng tạo và thực hiện những dự án cụ thể.
Khi đó, một hội có lịch sử hàng chục năm không nhất thiết là một tổ chức “già”, mà hoàn toàn có thể trở thành một thiết chế tri thức hiện đại.
Huế không chỉ giàu những di sản có thể nhìn thấy. Một phần rất lớn tài sản của thành phố nằm trong con người: trí nhớ, tri thức, kinh nghiệm, tay nghề, uy tín, các mối liên kết xã hội và tinh thần cống hiến của nhiều thế hệ trí thức, văn nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia và những người tâm huyết với quê hương.
Các hội quần chúng chính là một trong những nơi tập trung nguồn lực quý giá ấy.
Vì thế, điều đáng kỳ vọng từ việc triển khai Chỉ thị 11 không chỉ là các hội được kiện toàn tổ chức hay hoạt động nền nếp hơn. Điều quan trọng hơn là hình thành một cơ chế mới, chuyển từ tư duy “Nhà nước hỗ trợ cho hội hoạt động” sang “Nhà nước giao nhiệm vụ, đặt hàng – hội huy động trí tuệ và nguồn lực xã hội – cộng đồng thụ hưởng kết quả”.
Nếu làm được điều đó, Huế không chỉ phát huy tốt hơn những hội có truyền thống và uy tín, mà còn đánh thức được một nguồn lực phát triển rất lớn đang hiện hữu trong xã hội. Đó là nguồn lực của trí tuệ, uy tín và tinh thần cống hiến – một nguồn lực không mất đi khi được sử dụng, mà trái lại, càng được huy động càng có khả năng sinh sôi và càng trở nên quý giá đối với một thành phố đang bước vào giai đoạn phát triển mới.

