"Đánh thức" tiềm năng, nâng giá trị vùng đất bãi ven sông

Với lợi thế đất đai màu mỡ ven các dòng sông lớn, Ninh Bình đang khai thác hiệu quả tiềm năng vùng đất bãi để phát triển sản xuất nông nghiệp. Thông qua tích tụ đất đai, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhiều mô hình chuyên canh cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao được hình thành, mở ra hướng phát triển nông nghiệp hàng hóa, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tạo động lực tăng trưởng cho kinh tế địa phương.

Vùng trồng hoa Hồng Hà phát triển trên đất bãi phù sa ven sông Hồng, trở thành một trong những vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tiêu biểu của phường Thiên Trường. Ảnh: Ngọc Linh

Vùng trồng hoa Hồng Hà phát triển trên đất bãi phù sa ven sông Hồng, trở thành một trong những vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tiêu biểu của phường Thiên Trường. Ảnh: Ngọc Linh

Tại phường Thiên Trường, từ đầu những năm 1990, người dân làng hoa Hồng Hà (nay là tổ dân phố Hồng Hà) đã tận dụng lợi thế đất phù sa ven sông Hồng, mạnh dạn chuyển đổi diện tích trồng lúa, ngô sang trồng hoa. Qua hơn 30 năm phát triển, nghề trồng hoa từng bước hình thành vùng sản xuất tập trung, trở thành một trong những hướng sản xuất nông nghiệp mang lại giá trị kinh tế cao cho địa phương.

Ông Nguyễn Đăng Khoa, Chủ tịch Hội Nông dân phường Thiên Trường cho biết: Đất phù sa ven sông Hồng tơi xốp, giàu dinh dưỡng, tạo lợi thế để người dân vùng đất bãi phường Thiên Trường phát triển nghề trồng hoa. Nhờ điều kiện thổ nhưỡng thuận lợi, hoa sinh trưởng tốt, bông to, màu sắc đẹp, độ bền cao nên thương hiệu hoa Hồng Hà đã đáp ứng nhu cầu thị trường, mang lại thu nhập cao cho người dân, khẳng định hiệu quả kinh tế của vùng đất bãi trong những năm gần đây.

Hiện nay, vùng đất bãi ven sông trên địa bàn phường có hơn 1.300 hộ trồng hoa, với tổng diện tích khoảng 250 ha. Trong cơ cấu cây trồng, hoa cúc chiếm khoảng 85% diện tích; phần còn lại là các loại hoa ly, lay ơn, cát tường, hoa hồng. Giá trị thu nhập đạt khoảng 650 triệu đồng/ha/năm; nhiều hộ có doanh thu hàng tỷ đồng mỗi năm nhờ đầu tư sản xuất quy mô lớn.

Người dân phường Thiên Trường chuyển từ trồng lúa sang trồng hoa, mang lại giá trị kinh tế cao hơn trên cùng diện tích đất bãi canh tác.

Người dân phường Thiên Trường chuyển từ trồng lúa sang trồng hoa, mang lại giá trị kinh tế cao hơn trên cùng diện tích đất bãi canh tác.

Trên diện tích 6 sào đất bãi trước đây trồng ngô, từ năm 1996, gia đình ông Đỗ Văn Du, ở tổ dân phố Hồng Hà, phường Thiên Trường đã chọn lối đi chuyên canh cúc kim cương để tối ưu hoá lợi nhuận. Ông Du chia sẻ: So với trồng ngô, nghề trồng hoa đòi hỏi nhiều công chăm sóc, sự tỉ mỉ và kỹ thuật cao hơn, từ khâu xuống giống, tỉa nhánh đến điều chỉnh thời điểm hoa nở. Bù lại, hiệu quả kinh tế cao hơn rõ rệt. Nếu chủ động kỹ thuật chăm sóc và căn thời điểm thu hoạch phù hợp với nhu cầu thị trường, gia đình ông có thể đạt lợi nhuận lên tới 35 - 50 triệu đồng/sào/lứa.

Cùng với phát triển hoa cắt cành, người trồng hoa Hồng Hà cũng từng bước đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng các mô hình trồng hoa chậu, sản xuất cây giống và đưa thêm nhiều giống hoa mới vào canh tác. Sự chuyển đổi này không chỉ đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường mà còn tạo thêm hướng nâng cao giá trị sản xuất trên diện tích đất bãi, góp phần duy trì và phát triển nghề trồng hoa tại địa phương.

Không chỉ ở phường Thiên Trường, nhiều địa phương có vùng đất ven sông Hồng như: Nhân Hà, Nam Lý, Duy Tiên, Vị Khê, Nam Hồng... cũng đang chuyển đổi cơ cấu cây trồng, khai thác hiệu quả hơn quỹ đất bãi. Tại những khu vực chân đất vàn cao, có đê bối bảo vệ, người dân phát triển đa dạng các mô hình trồng cây cảnh, cây thế, cây ăn quả đặc sản, cho thu lãi trung bình từ 300 - 600 triệu đồng/ha/năm. Việc lựa chọn cây trồng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và nhu cầu thị trường từng bước hình thành các vùng sản xuất hàng hóa, nâng cao giá trị trên cùng diện tích canh tác.

Trên vùng đất bãi ven sông Hồng ở phường Duy Tân, sự thay đổi trong sản xuất thể hiện rõ qua việc đưa những cây trồng, vật nuôi mới vào canh tác. Thay cho những diện tích ngô tẻ lấy hạt trước đây, người dân phát triển cây chuối tiêu hồng, cây húng quế phục vụ chiết xuất tinh dầu và chăn nuôi bò sữa. Đây là những mô hình đang góp phần làm thay đổi diện mạo sản xuất trên khoảng 170 ha đất bãi, nâng cao giá trị kinh tế từ quỹ đất địa phương.

Đặc biệt, chăn nuôi bò sữa đã trở thành một trong những hướng sản xuất chủ lực trên vùng đất bãi phường Duy Tân. Từ khoảng năm 2013, người dân từng bước phát triển nghề nuôi bò sữa, chuyển đổi diện tích đất bãi sang trồng cỏ voi, cỏ cao sản làm thức ăn cho đàn bò, hình thành khu chăn nuôi tập trung rộng khoảng 100 ha với gần 1.600 con bò sữa, sản lượng đạt khoảng 5.500 tấn sữa/năm. Nhờ duy trì nguồn thu từ khai thác sữa, các hộ chăn nuôi có thu nhập khoảng 20 -70 triệu đồng/tháng, tùy quy mô đàn và hiệu quả sản xuất.

Chăn nuôi bò sữa tại phường Duy Tân không chỉ mang lại thu nhập cho các hộ chăn nuôi mà còn tạo việc làm, thu nhập ổn định cho lao động địa phương.

Chăn nuôi bò sữa tại phường Duy Tân không chỉ mang lại thu nhập cho các hộ chăn nuôi mà còn tạo việc làm, thu nhập ổn định cho lao động địa phương.

Tại gia đình ông Tống Văn Bính (tổ dân phố Hoàn Dương) đã tận dụng 20 mẫu đất bãi trồng cỏ, chủ động nguồn thức ăn cho đàn bò từ 90-100 con, với sản lượng khoảng 1,5 tấn sữa mỗi ngày. Nhờ tận dụng quỹ đất tại chỗ để phát triển vùng nguyên liệu thức ăn, gia đình có điều kiện duy trì đàn bò với quy mô lớn.

Ông Tống Văn Bính cho biết: Để chăn nuôi bò sữa hiệu quả, bên cạnh việc tuân thủ kỹ thuật chăm sóc, phòng bệnh và kiểm soát chi phí, người nuôi phải bảo đảm nguồn thức ăn ổn định. Quỹ đất bãi cho phép các hộ chủ động trồng cỏ phục vụ đàn bò, giảm phụ thuộc vào nguồn thức ăn mua ngoài, hiệu quả sản xuất được nâng cao.

Cùng với phát triển đàn bò, người chăn nuôi tại phường Duy Tân từng bước nâng cao giá trị nguồn sữa tươi thông qua chế biến. Trên địa bàn đã hình thành các cơ sở sản xuất nhiều sản phẩm từ sữa, trong đó hơn 10 sản phẩm đạt chứng nhận OCOP từ 3-4 sao. Việc đa dạng hóa sản phẩm đang giúp mở rộng đầu ra, đồng thời, gia tăng giá trị từ nguồn nguyên liệu sữa được sản xuất ngay tại địa phương.

Đàn bò sữa tại phường Duy Tân phát triển mạnh những năm gần đây nhờ lợi thế có có vùng đất bãi rộng, thuận lợi trồng cỏ, ngô làm thức ăn chăn nuôi.

Đàn bò sữa tại phường Duy Tân phát triển mạnh những năm gần đây nhờ lợi thế có có vùng đất bãi rộng, thuận lợi trồng cỏ, ngô làm thức ăn chăn nuôi.

Theo ông Lương Văn Khương, Trưởng phòng Nông nghiệp và Môi trường phường Duy Tân, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi đã góp phần nâng cao hiệu quả khai thác đất bãi, khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, hạn chế diện tích đất bỏ hoang. Trong đó, chăn nuôi bò sữa là mô hình mang lại hiệu quả kinh tế nổi bật, với mức lãi ròng ước đạt 2-3 triệu đồng/con/tháng. Việc kết hợp chăn nuôi với trồng cỏ, ngô làm thức ăn còn giúp người dân tận dụng quỹ đất tại chỗ, chủ động nguồn đầu vào và tổ chức sản xuất hiệu quả hơn. Đối với các diện tích chuyển sang trồng chuối tiêu hồng, húng quế, giá trị sản xuất bình quân đạt 10-15 triệu đồng/sào/năm, cao gấp hơn 5 lần so với trồng ngô tẻ lấy hạt trước đây.

Diện tích trồng cỏ tại phường Duy Tân cung cấp nguồn thức ăn cho đàn bò sữa, góp phần hình thành chu trình sản xuất tuần hoàn trên vùng đất bãi.

Diện tích trồng cỏ tại phường Duy Tân cung cấp nguồn thức ăn cho đàn bò sữa, góp phần hình thành chu trình sản xuất tuần hoàn trên vùng đất bãi.

Đáng chú ý, sản xuất trên vùng đất bãi ở Duy Tân đang từng bước hình thành mối liên kết giữa trồng trọt và chăn nuôi theo hướng tuần hoàn. Chất thải từ đàn bò được tận dụng làm phân hữu cơ cho các diện tích trồng cỏ, ngô, vừa cải tạo đất vừa giảm chi phí đầu tư phân bón; nguồn cỏ, ngô thu hoạch lại cung cấp thức ăn cho đàn bò. Tương tự, bã húng quế sau chưng cất tinh dầu được tận dụng để bón cho đất trồng, bổ sung dinh dưỡng và hạn chế lãng phí phụ phẩm. Cách làm này không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm chi phí sản xuất mà còn góp phần bảo vệ môi trường, hướng tới khai thác bền vững lợi thế đất bãi ven sông Hồng.

Thực tiễn tại các vùng đất bãi ven sông trên địa bàn tỉnh cho thấy, khi lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp và tổ chức sản xuất hiệu quả, giá trị đất đai được nâng lên, tạo thêm việc làm, cải thiện thu nhập cho người dân. Để phát huy hơn nữa tiềm năng này, các địa phương cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng giao thông, thủy lợi; đẩy mạnh tích tụ đất đai, ứng dụng khoa học kỹ thuật, tăng cường liên kết giữa người sản xuất với doanh nghiệp trong thu mua, chế biến và tiêu thụ nông sản. Cùng với đó, quy hoạch vùng sản xuất cần gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường, phát triển nông nghiệp sinh thái và sử dụng hiệu quả tài nguyên.

Từ đó, tiềm năng vùng bãi sẽ được “đánh thức”, từng bước hình thành những “hành lang kinh tế xanh”, góp phần chuyển đổi vùng nông thôn theo hướng “vành đai xanh thông minh”, hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân vùng đất ven sông.

Trần Giang

Nguồn Ninh Bình: https://baoninhbinh.org.vn/danh-thuc-tiem-nang-nang-gia-tri-vung-dat-bai-ven-song-261025102352909.html