Đào Nguyên Hải - viết để những người đã khuất được 'sống lại'
Được biết nhà văn Đào Nguyên Hải, một trong những cây bút có nhiều tác phẩm về đề tài chiến tranh, góp phần làm phong phú thêm những giá trị văn học của tỉnh nhà, tôi tìm đến nhà riêng của ông ở xóm Đồng Bông, xã Hà Thượng (cũ).

Nhà văn Đào Nguyên Hải và tác giả bài viết.
Ngôi nhà nhỏ nép mình bên triền đồi, trước cửa là một vườn rau xanh tốt cùng cây ăn trái, cây cảnh, mấy luống hoa đang khoe sắc. Không gian yên ả và thanh bình khiến cho những người quen nếp ồn ào phố xá như tôi cảm thấy tâm hồn thư thái. Đứng giữa khung cảnh như vậy, tôi khó hình dung nơi đây từng sinh ra một con người đã đi qua chiến tranh khốc liệt, những năm tháng gian truân trong rừng sâu trên đất nước Campuchia xa xôi.
Nhà văn Đào Nguyên Hải đón tôi bằng nụ cười thân thiện và nét mặt hiền từ. Ông tráng ấm pha trà, chậm rãi rót nước vào cái chén nhỏ, những động tác chừng như rất phù hợp vời khung cảnh thanh tĩnh ở nơi đây. Chúng tôi bắt đầu câu chuyện từ hương vị trà đậm sâu của chính gia đình ông chế biến.
Những vùng đất và chiến trường ác liệt
Đào Nguyên Hải sinh năm 1959. Thành phố Hải Phòng là nơi ông “chôn nhau cắt rốn”. Năm 1961, ông theo gia đình lên thành phố Thái Nguyên, rồi năm 1964 gia đình ông chuyển lên khai hoang ở Hà Thượng. Gần như toàn bộ tuổi thơ của ông gắn với mảnh đất này, vào những năm tháng đất nước còn bộn bề khó khăn.
Tôi hỏi ông:
- Ký ức nào của tuổi thơ theo ông dai dẳng nhất?
Ông cười hiền lành:
- Là ký ức được đọc sách. Tôi nghiện đọc từ bé, phần lớn bị ảnh hưởng từ người anh cả. Bất kể sách vở của anh có loại gì tôi đều đọc hết. Có lẽ nhờ vậy mà chữ nghĩa ngấm vào lúc nào không hay.
Hóa ra, niềm ham đọc của ông bắt nguồn từ người anh cả – nhà văn Hồ Thủy Giang. Sự ham đọc ấy đã âm thầm nuôi dưỡng một mầm văn. Nhưng phải đợi đến những năm tháng chiến tranh, mầm văn ấy mới thực sự bật lên thành ngòi bút.
Ông kể: “Năm 1979, sau khi tốt nghiệp phổ thông, tôi nhập ngũ và được cử đi học Trường Quân y (nay là Học viện Quân y). Ba năm sau, lên đường sang Campuchia với quân hàm chuẩn úy và được bổ nhiệm làm trưởng phòng mổ của trung đoàn. Tuy học dược, nhưng được đào tạo trong trường quân đội nên chúng tôi được huấn luyện đầy đủ kiến thức và cách sử dụng các loại vũ khí bộ binh. Vậy mà lần đầu tiên cầm quả lựu đạn trong tay để có thể sẵn sàng ném thẳng vào quân thù trước mặt, khiến tôi cũng có cảm giác lạ lẫm xen lẫn hồi hộp.
Vào chiến trường được hơn chục ngày thì phòng tôi tiếp nhận hai ca thương binh - Giọng ông bất chợt chùng xuống, có phần nặng nề khi kể về hai thương binh đầu tiên trong đời của mình, như thể nỗi đau ấy chỉ mới diễn ra ngày hôm qua: “Tuy tôi học dược nhưng vào đây, ranh giới y và dược không còn tồn tại, đã là quân y ở chiến trường thì việc gì cũng phải làm.
Lần đầu tiên ấy, tôi phải xử lý cho hai chiến sĩ trẻ, tuổi chừng 18 đến 20 là cùng, bị cụt cả hai chân vì mìn. Nhìn hai cậu lính trẻ như em út mình nằm bất động, nét mặt trắng bợt vì mất máu, tôi không nén nổi cảm xúc. Lúc ấy, tôi cảm thấy day dứt nhất là khi tỉnh dậy, biết mình bị tàn phế, hai cậu ấy sẽ nghĩ như thế nào, tuyệt vọng tới mức nào? Và có lẽ, đó là nỗi ám ảnh đã đeo bám tôi suốt đời.
Từ đầu năm 1983 đến cuối năm 1988, năm năm trời, Đào Nguyên Hải sống trong rừng, trong những phum làng người dân Campuchia bỏ lại. Sốt rét, thiếu thốn, cái chết rình rập từng ngày. Có nhiều đơn vị trong Trung đoàn, quân số 50, 60 người được lệnh đi chiến đấu, nhưng chỉ hơn hai chục người còn đủ sức cầm súng, số còn lại ngã quỵ vì sốt rét ác tính. Chính ông, từ một chàng trai hơn sáu mươi cân chỉ sau một tháng sốt rét đã bị tụt xuống còn bốn mươi cân.
Ông ngừng lời, rồi khẽ nói với tôi như một sự tổng kết:
- Nói đến chiến tranh, trong đầu tôi bây giờ chỉ còn lại đau thương, gian khổ và sự hy sinh của đồng đội.
Túi cơm sấy khắc sâu một nỗi đau
Khi nhắc đến truyện ngắn “Túi cơm sấy”, một trong những truyện ngắn nổi bật trong đời cầm bút của mình, giọng ông bỗng nghẹn lại:
- Mùa khô bên Campuchia khắc nghiệt đến mức không có nước. Lương thực của chúng tôi là những túi cơm sấy khô cứng, không thể nhai và nuốt nổi. Buổi sáng hôm ấy, một mũi trinh sát gồm 9 người, trước khi đi làm nhiệm vụ, họ phải đào hố, chôn 9 túi cơm xuống đất để hút ẩm. Đến chiều về, cơm mềm ra mới ăn được. Nhưng ngày hôm ấy, một đồng đội đã hy sinh trước khi kịp trở về. 9 túi cơm được đào lên. 8 người cầm 8 túi trên tay. Nhìn 1 túi nằm chỏng chơ dưới đất. Không ai nuốt nổi…
Nhìn thấy mắt ông hoe đỏ, tôi hỏi:
- Khi viết lại chi tiết đó, ông có nghĩ đến người đọc không?
Ông lắc đầu:
- Tôi chỉ nghĩ đến đồng đội mình. Tôi viết để mong những đồng đội của mình được sống lại. Sự hy sinh của họ phải còn in dấu mãi mãi trong tác phẩm”.
Trong suốt thời gian ở Campuchia, ông không viết vì không giấy, không bút, không có thời gian. Nhưng những chi tiết thì được “ghim” chặt trong đầu. Những ca thương binh, những cái chết bất ngờ, và cả những câu trả lời buộc phải nói dối của các quân y.
Có những nỗi đau ông muốn quên, nhưng không thể. Có những điều không muốn nhớ, nhưng ký ức cứ tự trở về. Như trường hợp một chiến sĩ vừa về phép cưới vợ xong, trở lại chiến trường thì bị mìn nổ, mất toàn bộ bộ phận sinh dục. Khi được đưa về trạm quân y, anh nắm tay ông hỏi: “Anh ơi! Tôi vừa mới lấy vợ! Liệu tôi còn khả năng có con không?”, Và ông chỉ biết an ủi bằng một lời nói dối: “Anh không sao đâu. Thật đấy! Tin tôi đi…” (Chi tiết ấy sau này trở thành hạt nhân của truyện ngắn “Vết Thương”).
Giải thưởng đầu tiên và sự ngạc nhiên về chính mình
Khi được hỏi về tác phẩm đầu tay, ông cho biết đó là truyện ngắn "Vật kỷ niệm bình thường" được viết vào năm 1982, trong một chuyến đi thực tập ở biên giới phía Bắc. Sau đó năm 1984 tác phẩm đoạt giải C của Tạp chí Văn nghệ Quân đội.
Tôi háo hức hỏi:
- Cảm giác đầu tiên khi biết mình được giải, ông thấy thế nào?
Ông cười, rất thật thà:
- Tôi rất vui và nghĩ: hóa ra mình cũng viết được văn.
Không tự hào, không khoa trương. Chỉ là một phát hiện nhẹ nhàng về chính mình. Bởi ông, chưa bao giờ nghĩ viết là để khẳng định tài năng, mà chỉ là một tâm niệm gìn giữ những hình ảnh đồng đội trong những ký ức khó quên.
Tiểu thuyết “Apsara dưới trăng” ra đời từ chính đời sống chiến đấu của đơn vị ông. Theo ông, đó là tác phẩm “Nhiều đau thương không thể nói thành lời, nên chỉ có thể diễn tả bằng con chữ”.
Trong "Apsara dưới trăng", không có những chiến công rực rỡ, mà là những thân phận bị bào mòn bởi chiến tranh. Những cơn sốt rét triền miên, những cái chết âm thầm, những mất mát không thể bù đắp… Nói đến chiến tranh, chỉ có hai thái cực sống – chết. Nghe ông nói, tôi chợt nghĩ: có những nhà văn không cần giới thiệu dài dòng về tác phẩm, chỉ cần nghe họ kể chuyện đời, ta đã thấy văn chương ở đó.
Sau khi rút quân khỏi Campuchia, đơn vị ông về đóng quân ở Sài Gòn. Vài năm sau, ông xuất ngũ, rồi được đơn vị cử đi lao động xuất khẩu tại Cộng hòa Liên bang Đức. Khi ông ở Đức có một sự việc không thể không nhắc đến: Biết ông là người đã có thành tựu trong văn chương, một tờ báo có ý mời ông cộng tác lâu dài, hứa hẹn lương cao, nhà cửa, xe cộ, thậm chí làm thủ tục định cư lâu dài. Nhưng khi đọc mấy bài trên trang của họ, ông thấy nội dung không phù hợp với sự phát triển của đất nước mình thời bấy giờ, đôi chỗ còn bôi nhọ cách mạng. Giữa một bên là cuộc sống vật chất đầy đủ, một bên là lương tâm người lính, ông đã chọn điều không khiến mình hổ thẹn.
“Tôi không thể phản bội Tổ quốc mình, vì ở đó là quê hương, là cha mẹ, người thân và nhất là tôi không thể phản bội lại những người đã vĩnh viễn nằm xuống, những người đã để lại một phần thân thể của mình cho ý nghĩa cao đẹp của cả một dân tộc” - ông nói với tôi bằng một giọng dứt khoát. Cũng vì lẽ đó khi trở về nước đã thôi thúc ông để bắt đầu công cuộc sáng tác về đề tài chiến tranh Campuchia. “Tôi viết cho những người đã khuất được sống mãi”- Một lần nữa, ông khẳng định lại với tôi tinh thần ấy.
Để cảm xúc lắng lại, tôi hỏi:
- Khi viết, ông thường nghĩ đến điều gì trước tiên? Người đọc hay bản thân mình? Ông nói ngay như không cần suy nghĩ:
- Tôi thường không quan tâm đến người đọc. Tôi viết để giãi bày cảm xúc của mình, vậy thôi.
- Nếu phải khuyên người mới cầm bút, ông sẽ nói gì với họ?
Ông nói:
- Tôi nghĩ, người viết đừng bận tâm đến chuyện người ta khen, chê. Hãy bắt đầu bằng những ký ức và cảm xúc của chính mình…
Tuổi già đến sớm nhưng niềm đam mê vẫn còn
Bây giờ, đời sống thường ngày của nhà văn Đào Nguyên Hải rất giản dị: chăn gà, trồng rau, ngắm hoa, sống vui thú điền viên.
Một cuộc sống với tuổi sắp bước vào xưa nay hiếm cũng được gọi là mỹ mãn. Nhưng khi tôi hỏi:
- Giờ ông có nuối tiếc gì không?
Ông lại cười hiền, nói vui:
- Hình như tuổi già của tôi đến sớm quá.
Rồi ông kể năm 2000, ông bị bệnh gout tưởng không qua khỏi, nặng đến nỗi không đi lại được. Có những ngày, người nhà phải khiêng ông ra hè tắm nắng rồi lại khiêng vào, nhưng may mắn sau ba năm chữa trị, bệnh cũng thuyên giảm. Kể đến đây ông cười vui vẻ và nói tiếp – “Có lẽ đam mê vẫn còn nhiều, nên bệnh cũng phải thua”. Ông bật mí, sắp tới ông lại cho xuất bản một tập truyện ngắn nữa…

Chăm sóc vườn hoa - thú vui tao nhã của nhà văn Đào Nguyên Hải.
Nhìn lại hành trình cầm bút, ông có một tiểu thuyết và hai tập truyện ngắn. Với những giải thưởng văn học ông đã đoạt được, gồm: 1 giải C của Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1984; 2 giải thưởng Truyện ngắn Báo Văn nghệ Thái Nguyên năm 2016; 2 giải thưởng của Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam năm 2017 và 2021.
Nhưng với ông, phần thưởng lớn nhất là đồng đội của ông vẫn còn sống mãi trong mỗi trang viết. Đấy mới chính là cốt lõi của chân dung nhà văn Đào Nguyên Hải, một người viết không ồn ào, không phô trương, nhưng mang trong mình một trách nhiệm nặng nề với ký ức, với đồng đội, với lương tâm của một cựu chiến binh và một người cầm bút. Cũng chính điều đó đã làm nên giá trị bền lâu của văn chương ông.
Chia tay ông, tôi bước ra khỏi căn nhà ấm áp, mang theo cảm giác buâng khuâng, trong lòng như còn ngân lên câu nói của ông: “Tôi viết để những người đã khuất được sống lại”.













