Đào tạo 1.000 tiến sĩ: Gắn nghiên cứu với bài toán lớn của Hà Nội

Từ mục tiêu đào tạo 1.000 nghiên cứu sinh giai đoạn 2026-2030, Hà Nội đang chuyển sang một bước đi cụ thể hơn: Định hướng để các trường đại học, người hướng dẫn và nghiên cứu sinh xác định ngay từ đầu đề tài nghiên cứu phải gắn với những bài toán lớn của thành phố, có sản phẩm, địa chỉ ứng dụng và khả năng chuyển giao, phục vụ trực tiếp yêu cầu phát triển Thủ đô.

Nghiên cứu khoa học tại trường Đại học Phenikaa. Ảnh: PV

Nghiên cứu khoa học tại trường Đại học Phenikaa. Ảnh: PV

Yêu cầu hình thành đội ngũ tinh hoa

Hà Nội có một lợi thế mà không nhiều địa phương có được khi triển khai chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ. Theo Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội Nguyễn Tố Quyên, Thủ đô hiện tập trung khoảng 70% tổ chức khoa học và công nghệ, trường đại học, viện nghiên cứu lớn của cả nước, cùng hơn 60% nhà khoa học sinh sống và làm việc.

Nhưng chính lợi thế đó lại đặt ra một yêu cầu cao hơn. Hà Nội không thiếu nguồn lực nghiên cứu, vấn đề là làm thế nào để nguồn lực ấy được tổ chức và sử dụng hiệu quả hơn cho những vấn đề thành phố đang phải giải quyết.

Số lượng chuyên gia đầu ngành đạt trình độ quốc tế trong một số lĩnh vực công nghệ chiến lược còn hạn chế; đội ngũ kế cận ở một số ngành còn thiếu. Đáng chú ý, những chuyên gia có thể đảm nhiệm vai trò tổng công trình sư, kiến trúc sư trưởng - vừa giỏi chuyên môn, vừa có khả năng nhìn nhận vấn đề ở tầm chiến lược, tổ chức các nhóm nghiên cứu và điều phối giải quyết những bài toán phức tạp - vẫn chưa đáp ứng yêu cầu.

Vì thế, mục tiêu đào tạo 1.000 nghiên cứu sinh của Hà Nội cần được nhìn ở một tầng khác: Đây không đơn thuần là chương trình hỗ trợ để có thêm 1.000 người đạt trình độ tiến sĩ, mà là bước chuẩn bị nguồn nhân lực cho những nhiệm vụ phát triển cụ thể của Thủ đô.

Tinh thần này đã được đặt ra trong Kế hoạch hành động số 20-KH/BCĐ57 ngày 19-1-2026 của Ban Chỉ đạo 57 Thành ủy thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Trong đó, đào tạo 1.000 nghiên cứu sinh giai đoạn 2026-2030 được xác định gắn với các “bài toán lớn”, các điểm nghẽn trong phát triển của Hà Nội.

Điểm mới đáng chú ý nằm ở chữ “gắn”. Khi đào tạo được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với bài toán của thành phố, đề tài nghiên cứu không còn chỉ là lựa chọn riêng giữa nghiên cứu sinh và người hướng dẫn, mà phải trả lời câu hỏi: Nghiên cứu này giải quyết vấn đề gì của Hà Nội? Kết quả cuối cùng là gì? Ai có thể tiếp nhận và sử dụng?

GS.TS Lê Anh Tuấn, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội trao bằng tốt nghiệp cho sinh viên. Ảnh: PV

GS.TS Lê Anh Tuấn, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội trao bằng tốt nghiệp cho sinh viên. Ảnh: PV

Đây cũng là hướng tiếp cận được GS.TS Lê Anh Tuấn, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội, đánh giá là đúng hướng. Theo ông, chính sách có thể tạo bước đột phá trong đào tạo tiến sĩ nếu gắn với nhu cầu thực tiễn, có sự phối hợp chặt chẽ giữa thành phố, trường đại học và doanh nghiệp.

Quan trọng hơn, theo GS.TS Lê Anh Tuấn, giá trị trực tiếp của chương trình phải được thể hiện qua những giải pháp, công nghệ, thiết bị góp phần xử lý các điểm nghẽn như: Ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường, ngập úng, trật tự xây dựng - quản lý đất đai, an toàn thực phẩm...

Chính sách bắt đầu đi vào “đường ray”

Ngày 15-6-2026, HĐND thành phố ban hành Nghị quyết số 57/2026/NQ-HĐND quy định một số chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của thành phố Hà Nội, trong đó có chính sách hỗ trợ nghiên cứu sinh học tập tại các cơ sở đào tạo trong nước để giải quyết bài toán lớn của thành phố. Tiếp đó, ngày 14-7-2026, UBND thành phố ban hành Kế hoạch số 276/KH-UBND triển khai Nghị quyết.

Và ngày 4-9 vừa qua, Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội có thông báo hướng dẫn sơ bộ việc triển khai chính sách. Đây là bước chuyển đáng chú ý, bởi thay vì chờ đến khi chính thức tiếp nhận hồ sơ mới bắt đầu định hướng, thành phố đang yêu cầu các cơ sở đào tạo, người hướng dẫn và nghiên cứu sinh chuẩn bị từ trước.

Theo hướng dẫn sơ bộ của Sở Khoa học và Công nghệ, nghiên cứu sinh được xem xét hỗ trợ phải đáp ứng các điều kiện theo quy định, trong đó phải được cơ sở đào tạo công nhận là nghiên cứu sinh từ ngày 1-7-2026 trở đi, học tập trung toàn thời gian tại cơ sở đào tạo trong nước; chuyên ngành và nội dung nghiên cứu phải trực tiếp hoặc có khả năng đóng góp thiết thực vào việc giải quyết bài toán lớn của thành phố.

Các cơ sở đào tạo được đề nghị rà soát nghiên cứu sinh có khả năng đáp ứng điều kiện, đồng thời định hướng đề tài phù hợp với Danh mục bài toán lớn của thành phố và các định hướng ưu tiên. Khi xây dựng đề cương, nghiên cứu sinh phải làm rõ bài toán lớn mà nghiên cứu dự kiến góp phần giải quyết; vấn đề thực tiễn và khoảng trống khoa học, công nghệ; mục tiêu, tính mới, tính khả thi; sản phẩm, kết quả dự kiến và chỉ tiêu có thể kiểm chứng.

Đặc biệt, hồ sơ còn phải thể hiện khả năng ứng dụng, chuyển giao hoặc sử dụng kết quả nghiên cứu; xác định cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hoặc đơn vị có khả năng phối hợp, tiếp nhận, thử nghiệm hoặc sử dụng kết quả.

Đây là điểm có ý nghĩa đối với cách tổ chức đào tạo tiến sĩ. Bởi nếu một nghiên cứu được đặt trong nhu cầu thực tiễn của thành phố, cơ quan quản lý hoặc doanh nghiệp có thể tham gia từ sớm, cung cấp dữ liệu, tạo điều kiện thử nghiệm và tiếp nhận kết quả. Khi đó, khoảng cách giữa giảng đường, phòng thí nghiệm và đời sống thực tế được thu hẹp.

GS.TS Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội), cũng nhấn mạnh yêu cầu này khi cho rằng, muốn làm chủ công nghệ, nghiên cứu phải gắn với doanh nghiệp và thị trường. Theo ông, nhiều “bài toán lớn” của Hà Nội không thể giải quyết bằng một luận án tiến sĩ hoặc một trường đại học riêng lẻ, mà cần sự hợp tác giữa cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan quản lý.

GS.TS Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ. Ảnh: PV

GS.TS Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ. Ảnh: PV

Thực tế của Trường Đại học Công nghệ cho thấy, thông qua các hợp đồng nghiên cứu với doanh nghiệp, trường đã thực hiện việc miễn học phí và cấp học bổng cho nghiên cứu sinh. Kinh nghiệm này cho thấy, nếu kết nối được nhu cầu của doanh nghiệp với hoạt động đào tạo và nghiên cứu, nguồn lực cho nghiên cứu sinh không chỉ đến từ ngân sách.

Với Hà Nội, đây có thể là hướng để chương trình 1.000 tiến sĩ tạo ra tác động rộng hơn một chính sách hỗ trợ đào tạo thông thường.

Bởi thành phố không chỉ cần người làm nghiên cứu, mà cần những người có thể đứng trong một mạng lưới nghiên cứu lớn, hiểu bài toán thực tế, làm việc với doanh nghiệp, kết nối chuyên gia và đưa kết quả từ phòng thí nghiệm đến ứng dụng.

Để làm được điều đó, theo GS.TS Lê Anh Tuấn, cần đồng thời phát triển các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, nâng cấp một số phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu hiện có và xây dựng các trung tâm chế thử liên ngành. Đây là nền tảng để thu hút chuyên gia trong và ngoài nước, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, tạo môi trường nghiên cứu đủ mạnh.

Một vấn đề khác cũng được đặt ra là chính sách sử dụng sau đào tạo. Nguồn nhân lực tinh hoa chỉ thực sự trở thành nguồn lực phát triển khi những người được đào tạo có cơ hội làm việc, nghiên cứu và phát huy năng lực tại Hà Nội.

Sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội trong giờ thực hành. Ảnh: PV

Sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội trong giờ thực hành. Ảnh: PV

Với việc ban hành chính sách và từng bước hướng dẫn triển khai, Hà Nội đang tạo điều kiện để các trường đại học phát huy thế mạnh nghiên cứu, đồng thời đưa nhu cầu của thành phố trở thành một trong những điểm xuất phát của hoạt động đào tạo tiến sĩ. Nếu thực hiện tốt, chương trình 1.000 nghiên cứu sinh sẽ không chỉ góp phần bổ sung đội ngũ nhân lực chất lượng cao, mà quan trọng hơn, tạo thêm lực lượng khoa học có khả năng đồng hành cùng thành phố trong giải quyết những bài toán phát triển ngày càng phức tạp.

Thu Hằng

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/dao-tao-1-000-tien-si-gan-nghien-cuu-voi-bai-toan-lon-cua-ha-noi-1706459.html