Đào tạo nghề cho lao động dân tộc thiểu số: Ai chịu trách nhiệm đến tháng thứ 12?
Hàng trăm nghìn lao động DTTS đã được hỗ trợ đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm. Nhưng nếu không ai theo dõi người học đến tháng thứ 12, kết quả đào tạo rất dễ dừng ở tấm chứng chỉ, chưa chuyển thành việc làm và thu nhập bền vững.

Việc làm sau đào tạo nghề phải được đánh giá bằng thu nhập và khả năng duy trì sau 6 - 12 tháng. Ảnh: Hoàng Quý
Tấm bằng sau đào tạo nghề mới chỉ là điểm xuất phát
Khi nhận bằng trung cấp nghề thương mại điện tử, Ksơr Y Hiếc - cô gái Ê Đê sinh năm 2007 ở Đắk Lắk - đã biết viết nội dung quảng bá sản phẩm, quay và dựng video.
Với Y Hiếc, học nghề là cách để tự tin hơn khi bước vào thị trường lao động. Gia đình khó khăn, phía sau còn 4 người em nhỏ. Vì vậy, em dự định đi làm ngay sau kỳ thi tốt nghiệp THPT, có điều kiện rồi mới tính chuyện học tiếp.
Cùng khóa học, em Trương Thị Điềm - dân tộc Nùng, chọn nghề hướng dẫn du lịch. Điềm vừa học văn hóa, vừa học nghề, lại được thực hành tại các công ty du lịch trong và ngoài tỉnh. Trải nghiệm ấy giúp em hình dung rõ hơn công việc thay vì chỉ học lý thuyết.
Y Hiếc cần đi làm sớm vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, còn Điềm đã đứng gần cánh cửa việc làm. Nhưng tấm bằng chưa thể trả lời: 3 tháng sau, các em có việc đúng nghề? 6 tháng sau còn trụ lại? Đến tháng thứ 12, thu nhập ra sao?
Theo tham luận của Vụ Chính sách (Bộ Dân tộc và Tôn giáo) tại Hội thảo khoa học “Nhiệm vụ và giải pháp tạo việc làm, phát triển dịch vụ, kết nối lao động bền vững trong vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2026 - 2035”, giai đoạn 2021 - 2025, Tiểu dự án 3, Dự án 5 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi (Chương trình MTQG 1719) đã triển khai 2.354 mô hình, hỗ trợ đào tạo cho 238.958 lao động DTTS. Có 140.024 người được tư vấn, giới thiệu việc làm, trong đó 19.136 người ký được hợp đồng lao động.
Những con số phản ánh quy mô hỗ trợ, nhưng chưa cho biết bao nhiêu việc làm được duy trì sau 1 năm. Kết quả điều tra về 53 DTTS năm 2024 cho thấy tỷ lệ lao động DTTS qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ mới khoảng 14,6%; việc làm chính thức và bảo hiểm còn hạn chế.
Thực hiện Chương trình MTQG 1719, Nghệ An hỗ trợ đào tạo nghề cho 8.981 lao động DTTS; tư vấn, tập huấn cho hơn 30.000 lượt người. Cuối năm 2024, tỷ lệ lao động trong độ tuổi được đào tạo nghề phù hợp đạt 51,5%, vượt mục tiêu.
Nhưng tại xã Hữu Kiệm, tỉnh Nghệ An, Chủ tịch UBND xã Nguyễn Văn Long cho biết, có lao động sau đào tạo vẫn "không biết làm gì". Địa bàn không có nhà máy, xưởng chế biến; nghề mây tre đan trên địa bàn ít đầu ra, lại không phù hợp với phần lớn lao động trẻ.
Lời ông Long cho thấy nghịch lý: Người dân có thể đã học xong một nghề nhưng quanh nơi ở không có chỗ sử dụng nghề ấy, nên nhiều người vẫn phải rời quê đi làm thuê.
Không có doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc đầu ra cho sản phẩm, kỹ năng được đào tạo khó chuyển thành việc làm. Vì thế, đầu ra phải được xác định trước khi mở lớp.
Hay như tại Lai Châu, đến hết năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ đạt 25,92%. Ông Đèo Văn Thương - Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Lai Châu - cho biết, tỉnh chưa có khu công nghiệp, doanh nghiệp chủ yếu quy mô nhỏ. Địa phương đề xuất đào tạo gắn với du lịch cộng đồng, chế biến nông sản, dược liệu và nhu cầu tuyển dụng ngoài tỉnh.

Việc làm sau đào tạo nghề cần được kết nối với đơn hàng và thị trường ổn định. Ảnh: Hoàng Quý
Ai chịu trách nhiệm đến tháng thứ 12?
Theo tham luận của Văn phòng Quốc gia về dân tộc và miền núi tại Hội thảo khoa học “Nhiệm vụ và giải pháp tạo việc làm, phát triển dịch vụ, kết nối lao động bền vững trong vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2026 - 2035”, cơ chế phối hợp “ba nhà” cần được tổ chức thành một chu trình khép kín: xác định nhu cầu; doanh nghiệp, hợp tác xã xác nhận việc làm hoặc đầu ra; nhà trường đào tạo gắn với thực hành; sau đó tuyển dụng, hỗ trợ sinh kế và theo dõi kết quả sau 3, 6, 12 tháng.
Đến tháng thứ ba, cơ sở đào tạo và trung tâm dịch vụ việc làm phải biết người học đã có việc hay cần kết nối lại. Đến tháng thứ sáu, doanh nghiệp và hợp tác xã cung cấp thông tin về khả năng duy trì việc làm, mức lương và kỹ năng còn thiếu. Nếu người lao động nghỉ việc, hệ thống phải xác định nguyên nhân để hỗ trợ.
Đến tháng thứ 12, chính quyền địa phương và cơ quan quản lý chương trình phải đánh giá người lao động còn việc hay không, thu nhập có tăng, có hợp đồng và tham gia bảo hiểm xã hội hay chưa. Với người tự tạo sinh kế, cần theo dõi doanh thu, thu nhập ròng, đầu ra và khả năng duy trì mô hình trong 12 - 24 tháng.
Kết quả phải được dùng để điều chỉnh danh mục nghề. Nghề có nhiều người bỏ việc sau 6 tháng không thể tiếp tục mở chỉ vì dễ tuyển sinh; nghề tạo thu nhập ổn định cần được nối thêm vốn và thị trường.
Tham luận cũng đề xuất thanh toán kinh phí công theo từng chặng: hoàn thành đào tạo, có việc và duy trì việc làm sau 6 hoặc 12 tháng. Cách làm này gắn trách nhiệm các bên với kết quả cuối cùng.
Tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nông Thị Hà nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ sinh thái việc làm phù hợp với từng địa phương. Khóa học chỉ thành công khi kỹ năng tạo ra thu nhập.
Nếu người học "biến mất" sau lễ trao chứng chỉ, chính sách mới hoàn thành phần dễ nhất. Tháng thứ 12 mới cho thấy tấm bằng đã trao cơ hội việc làm cho người lao động hay chỉ được cất vào một góc tủ, góc nhà.
