Đào tạo nhân lực công nghệ chiến lược gắn với bài toán thực tiễn từ doanh nghiệp

Yêu cầu nhân lực, đặc biệt trong các ngành công nghệ chiến lược, STEM đặt yêu cầu ngày càng cao hiệu quả liên kết nhà trường - doanh nghiệp.

Giờ học tại Trường Đại học Mở Hà Nội.

Giờ học tại Trường Đại học Mở Hà Nội.

Từ hợp tác hình thức đến đồng kiến tạo

Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với năng lực cạnh tranh quốc gia, phát triển nguồn nhân lực cho các ngành công nghệ chiến lược, STEM trở thành yêu cầu cấp thiết.

Đáp ứng nhu cầu nhân lực trong các lĩnh vực này, hoạt động đào tạo cần vượt ra ngoài khuôn khổ giảng đường, gắn chặt với thực tiễn sản xuất, nghiên cứu và phát triển công nghệ. Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường liên kết sâu hơn, hiệu quả hơn giữa nhà trường và doanh nghiệp.

Theo TS. Nguyễn Minh Giám, Khoa Sư phạm, Trường Đại học Thủ Dầu Một, TPHCM, sự tham gia của doanh nghiệp đặc biệt có ý nghĩa đối với các lĩnh vực STEM bởi đây là những ngành có tính thực hành và ứng dụng cao.

Trên thực tế, mối liên kết này đã có những chuyển biến tích cực. Nhiều trường chủ động phối hợp với doanh nghiệp tổ chức thực tập, trải nghiệm thực tế, tọa đàm, mời chuyên gia tham gia giảng dạy, hướng dẫn đồ án và triển khai các dự án. Qua đó, sinh viên có điều kiện tiếp cận công nghệ, môi trường làm việc và yêu cầu nghề nghiệp ngay trong quá trình học tập.

Tuy nhiên, TS. Nguyễn Minh Giám cũng chỉ ra ở một số nơi, hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp còn mang tính ngắn hạn, chủ yếu tập trung vào ký kết thỏa thuận, tham quan hoặc tiếp nhận sinh viên thực tập, trong khi doanh nghiệp chưa tham gia sâu vào việc xây dựng chương trình và đánh giá chuẩn đầu ra. Một số chương trình đào tạo vẫn chưa cập nhật kịp với tốc độ thay đổi của công nghệ. Ngược lại, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ nguồn lực và thời gian để tham gia thường xuyên vào hoạt động đào tạo.

Sự khác biệt về mục tiêu cũng là một khó khăn. Nhà trường quan tâm đến việc hình thành nền tảng kiến thức, tư duy và năng lực phát triển lâu dài cho người học, còn doanh nghiệp thường quan tâm nhiều hơn đến năng suất, kỹ năng thực hiện công việc và yêu cầu nhân lực trước mắt.

Theo TS. Nguyễn Minh Giám, nếu hai bên không thống nhất được mục tiêu và trách nhiệm, việc hợp tác rất dễ trở thành hình thức. Ngoài ra, một bộ phận sinh viên còn thiếu kỹ năng thực hành, kỹ năng giải quyết vấn đề, làm việc nhóm, giao tiếp, ngoại ngữ và khả năng thích ứng với môi trường doanh nghiệp.

Thực tế này cho thấy, bài toán đặt ra không chỉ là mở rộng số lượng đối tác mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng, chiều sâu và hiệu quả của mối liên kết.

Từ thực tiễn đào tạo, ThS. Đỗ Ngọc Anh, Giám đốc Trung tâm Truyền thông và Tuyển sinh, Trường Đại học Mở Hà Nội, cho rằng cần chuyển tư duy từ “liên kết” sang “đồng kiến tạo”. Theo đó, doanh nghiệp không chỉ tham gia khi sinh viên đi thực tập hoặc chuẩn bị tốt nghiệp mà cần hiện diện trong nhiều khâu của quá trình đào tạo.

Trước hết, nhà trường và doanh nghiệp cần phối hợp xây dựng, thường xuyên cập nhật chương trình đào tạo. Nhà trường cung cấp nền tảng khoa học, phương pháp và năng lực học tập lâu dài; doanh nghiệp cung cấp thông tin từ thị trường lao động, cập nhật công nghệ và những bài toán thực tiễn. Sự kết hợp này đặc biệt quan trọng với các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu, an ninh mạng, tự động hóa, điện tử – viễn thông, kỹ thuật máy tính và công nghệ sinh học…

Cùng với đó, bài toán thực tế của doanh nghiệp cần được đưa vào giảng đường thông qua học tập theo dự án, đồ án doanh nghiệp, hoạt động tại phòng thí nghiệm, cuộc thi công nghệ, thực tập và nghiên cứu ứng dụng. Qua những hình thức này, sinh viên không chỉ nắm được kiến thức về công nghệ mà còn phải biết vận dụng để giải quyết vấn đề cụ thể.

Một nội dung quan trọng khác là xây dựng dòng chảy nhân lực hai chiều giữa nhà trường và doanh nghiệp. Chuyên gia doanh nghiệp có thể tham gia giảng dạy, hướng dẫn đồ án, nghiên cứu cùng giảng viên; ngược lại, giảng viên cần có cơ hội làm việc, nghiên cứu và cập nhật công nghệ tại doanh nghiệp. Theo ThS. Đỗ Ngọc Anh, đây là giải pháp quan trọng để thu hẹp khoảng cách giữa giảng đường và thực tiễn.

Hoạt động đào tạo cũng cần được đặt trong hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. ThS. Đỗ Ngọc Anh cho biết, trong năm học 2026-2027, sinh viên các ngành công nghệ chiến lược của Trường Đại học Mở Hà Nội được thường xuyên thực hành, thực nghiệm và ươm mầm sáng tạo tại Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia, Khu Công nghệ cao Hòa Lạc. Người học được đặt gần hơn với hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp.

Hoàn thiện cơ chế để hợp tác mang lại hiệu quả thực chất

Để sự tham gia của doanh nghiệp không dừng ở những hoạt động riêng lẻ, TS. Nguyễn Minh Giám cho rằng các cơ sở giáo dục cần xác định liên kết doanh nghiệp là một bộ phận trong chiến lược phát triển chương trình và nâng cao chất lượng đào tạo, thay vì chỉ coi đây là hoạt động đối ngoại thông thường.

Mỗi chương trình đào tạo STEM nên xác định nhóm doanh nghiệp đối tác phù hợp, xây dựng kế hoạch hợp tác lâu dài, đồng thời quy định rõ trách nhiệm và lợi ích của mỗi bên.

Về phía doanh nghiệp, cần chủ động hơn trong việc tham gia đào tạo, không chỉ tiếp nhận sinh viên thực tập hoặc tuyển dụng sau tốt nghiệp mà còn đóng góp chuyên gia, bài toán thực tế, thiết bị, công nghệ và kinh nghiệm nghề nghiệp.

Đối với cơ quan quản lý Nhà nước, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho giáo dục, nghiên cứu và phát triển; tạo cơ chế thuận lợi để chuyên gia ở doanh nghiệp tham gia giảng dạy và hướng dẫn sinh viên; có chính sách hỗ trợ phù hợp đối với các chương trình đào tạo những lĩnh vực công nghệ chiến lược, bởi đây thường là những ngành đòi hỏi chi phí lớn về thiết bị, phòng thí nghiệm và công nghệ. Đồng thời, cần cơ chế rõ ràng về tài chính, sở hữu trí tuệ, bảo mật dữ liệu và chia sẻ lợi ích khi nhà trường và doanh nghiệp cùng triển khai các dự án.

Theo TS. Nguyễn Minh Giám, hiệu quả liên kết nhà trường – doanh nghiệp cần được đánh giá qua mức độ nâng cao năng lực nghề nghiệp của sinh viên, khả năng cập nhật của chương trình đào tạo trước sự thay đổi của công nghệ và mức độ tham gia thực chất của doanh nghiệp vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực.

Đồng quan điểm, ThS. Đỗ Ngọc Anh cũng nhấn mạnh hiệu quả hợp tác cần được đo bằng kết quả thực chất, thay vì số lượng biên bản ghi nhớ đã ký.

“Tại Trường Đại học Mở Hà Nội, nhà trường cũng đang mở rộng hợp tác với doanh nghiệp theo hướng không chỉ tuyển dụng mà còn đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển nguồn nhân lực. Chúng tôi quan tâm đến những chỉ số như: bao nhiêu học phần có sự tham gia của doanh nghiệp; bao nhiêu sinh viên được làm dự án thực tế; tỷ lệ sinh viên có việc làm phù hợp; số bài toán doanh nghiệp được giảng viên và sinh viên tham gia giải quyết; số kết quả nghiên cứu được ứng dụng hoặc chuyển giao”.

ThS. Đỗ Ngọc Anh chia sẻ điều này và cho rằng, mục tiêu của hợp tác không chỉ là giúp sinh viên có nơi thực tập hay có việc làm, mà cao hơn là giúp người học hình thành năng lực thích ứng, năng lực sáng tạo và khả năng làm chủ công nghệ.

"Nếu xây dựng được cơ chế hợp tác theo hướng cùng thiết kế chương trình, cùng đào tạo, cùng thực hành, cùng đánh giá, cùng phát triển nguồn nhân lực, liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp sẽ thực chất hơn, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng đào tạo STEM và khả năng đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các ngành công nghệ chiến lược ở hiện tại, tương lai" - TS. Nguyễn Minh Giám.

Hiếu Nguyễn

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/dao-tao-nhan-luc-cong-nghe-chien-luoc-gan-voi-bai-toan-thuc-tien-tu-doanh-nghiep-post796048.html