Đào tạo nhân lực công nghệ mới gắn với nhu cầu thực tiễn
Sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, dữ liệu lớn và các lĩnh vực công nghệ mới đang đặt ra yêu cầu đổi mới đào tạo nguồn nhân lực.
Trước xu hướng này, các cơ sở giáo dục đại học chú trọng phát triển năng lực liên ngành, khả năng thích ứng và giải quyết vấn đề, đồng thời việc tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp vào quá trình đào tạo góp phần đáp ứng nhu cầu thị trường lao động.
Đổi mới đào tạo trước yêu cầu nhân lực công nghệ mới

Thử nghiệm robot công nghiệp tại Trung tâm Đào tạo, Nghiên cứu và Phát triển Ứng dụng Robot Công nghiệp và Trí tuệ nhân tạo (trường Đại học Bách khoa – Đại học Đà Nẵng). Ảnh: Khoa Chương/TTXVN
Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi số đang làm thay đổi yêu cầu về kỹ năng của người lao động. Doanh nghiệp không chỉ tìm kiếm nhân lực có chuyên môn kỹ thuật mà còn chú trọng khả năng thích ứng, tư duy phân tích, giải quyết vấn đề và phối hợp làm việc trong môi trường công nghệ.
Báo cáo phân tích xu hướng thị trường lao động và kỳ vọng của nhà tuyển dụng trong kỷ nguyên AI của Navigos Group (đơn vị cung cấp các giải pháp nhân sự và tuyển dụng) cho thấy có sự khác biệt giữa những kỹ năng doanh nghiệp tìm kiếm và nhu cầu đào tạo của người lao động. Trong khi người tìm việc ưu tiên nâng cao năng lực sử dụng công nghệ, AI và dữ liệu lớn, các nhà tuyển dụng lại đặc biệt coi trọng khả năng thích ứng và giải quyết vấn đề, bên cạnh năng lực chuyên môn.
Qua khảo sát nhu cầu tuyển dụng của mạng lưới doanh nghiệp đối tác, Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh (UEH) đã nhận diện ba nhóm năng lực còn thiếu hụt, gồm khả năng làm việc với dữ liệu trong bối cảnh nghiệp vụ; kết nối công nghệ với kinh doanh; quản trị rủi ro và tuân thủ trong môi trường số.
Trên cơ sở đó, UEH phát triển các chương trình đào tạo tích hợp công nghệ và kinh tế như Công nghệ tài chính, Khoa học dữ liệu, Thương mại điện tử, Trí tuệ nhân tạo trong kinh doanh, Sản xuất thông minh và Công nghệ logistics... Các chương trình được thiết kế kết hợp ba lớp năng lực: nền tảng kinh tế, quản trị (để hiểu bài toán); công cụ công nghệ và dữ liệu (để giải quyết bài toán); dự án thực tế với doanh nghiệp (để kiểm chứng lời giải). Hợp tác với doanh nghiệp vì vậy trở thành điều kiện tồn tại chứ không chỉ là hoạt động bổ trợ trong đào tạo nhân lực số.
Ở lĩnh vực kỹ thuật, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh cũng nhìn nhận, nguồn nhân lực kỹ thuật - công nghệ trong giai đoạn mới không chỉ đòi hỏi kiến thức chuyên môn thuần túy mà còn phải có năng lực liên ngành, tích hợp công nghệ số, tư duy giải quyết những bài toán thực tiễn phức tạp, nghiên cứu đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.
Theo đó, người học cần có khả năng kết hợp kiến thức chuyên ngành với tư duy dữ liệu, ứng dụng AI và tự động hóa để tối ưu hóa quy trình sản xuất, nghiên cứu - phát triển và quản trị vận hành; đồng thời biết nhận diện những nút thắt kỹ thuật của doanh nghiệp, phân tích đa chiều, thiết kế và thử nghiệm giải pháp đáp ứng tiêu chuẩn công nghiệp. Bên cạnh đó là năng lực phát triển tài sản trí tuệ, chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm có khả năng thương mại hóa; sử dụng ngoại ngữ chuyên ngành, làm việc trong môi trường quốc tế và tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp, tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG) và an toàn thông tin.
Những yêu cầu này đòi hỏi cơ sở giáo dục đại học hiện đại hóa chuẩn đầu ra, đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy, chuyển từ chú trọng truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực thông qua các dự án thực tế, lấy khả năng vận dụng kiến thức, thích ứng và giải quyết vấn đề làm trọng tâm.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, Bộ đang triển khai các đề án đào tạo nhân lực chất lượng cao cho những lĩnh vực như điện hạt nhân, đường sắt tốc độ cao, thiết kế vi mạch và công nghệ thông tin… Các cơ sở đào tạo cần tăng cường kết nối với doanh nghiệp để xác định nhu cầu tuyển dụng và tổ chức đào tạo phù hợp. Các quy định mới hiện nay cũng tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo, từ xây dựng chương trình, xác định yêu cầu về kiến thức, kỹ năng đến tổ chức học phần thực hành, hướng dẫn và đánh giá các nhiệm vụ, đồ án của người học.
Gắn đào tạo với bài toán thực tiễn của doanh nghiệp

Sinh viên thực tập Môn lập trình vi điều khiển tại Trường Cao đẳng Công nghệ Việt - Hàn Bắc Giang. Ảnh: Danh Lam/TTXVN
Cùng với đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy, nhiều trường đại học đang tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp vào quá trình đào tạo nhằm thu hẹp khoảng cách giữa kiến thức học thuật và yêu cầu thị trường lao động.
Tại Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh (HCM-UTE), hợp tác với doanh nghiệp từng bước chuyển từ quan hệ phối hợp sang đồng kiến tạo, cùng đào tạo, nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đến nay, nhà trường đã xây dựng mạng lưới hợp tác với hơn 1.650 doanh nghiệp, tập đoàn và hiệp hội. Doanh nghiệp ngày càng tham gia sâu vào các hoạt động của trường, từ xác định nhu cầu nhân lực, xây dựng và cập nhật chương trình đào tạo đến giảng dạy, tổ chức thực tập, nghiên cứu, tài trợ phòng thí nghiệm, đánh giá và tuyển dụng sinh viên.
Theo đó, các khoa, viện chuyên môn của trường đã thành lập hội đồng doanh nghiệp tư vấn để tham gia góp ý xây dựng chuẩn đầu ra và chương trình đào tạo. Đồng thời, các chuyên đề doanh nghiệp được đưa vào chương trình học, giúp sinh viên tiếp cận công nghệ, kỹ thuật mới và yêu cầu nghề nghiệp thực tế. Nhiều chương trình hợp tác chuyên sâu giữa nhà trường với các doanh nghiệp, tập đoàn được triển khai, tạo điều kiện để sinh viên tiếp cận môi trường làm việc trong các lĩnh vực kỹ thuật, tự động hóa, công nghệ thông tin và sản xuất công nghệ cao.
Bên cạnh đó, các bài toán công nghệ của doanh nghiệp được đưa vào những sân chơi nghiên cứu, sáng tạo; hoạt động hợp tác nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ cũng được đẩy mạnh, với nhiều kết quả nghiên cứu phát triển thành sản phẩm, thiết bị và giải pháp công nghệ phục vụ sản xuất, kinh doanh.
Tại Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, quan hệ hợp tác với doanh nghiệp cũng theo hướng đồng kiến tạo, cùng tham gia đào tạo, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực bền vững. Nhà trường đẩy mạnh phương pháp lấy người học làm trung tâm, đào tạo thông qua trải nghiệm thực tiễn và giải quyết những vấn đề kỹ thuật do doanh nghiệp đặt hàng. Qua đó, sinh viên được phát triển chuỗi năng lực cốt lõi: học từ vấn đề thực tế, nghiên cứu, phát triển giải pháp đến thử nghiệm và triển khai. Hoạt động thực tập, trải nghiệm tại doanh nghiệp được xem là mắt xích quan trọng để chuyển hóa kiến thức lý thuyết thành năng lực nghề nghiệp. Đáng chú ý, nhà trường xác định không chỉ sinh viên mà cả giảng viên cũng cần có cơ hội tiếp cận thực tiễn doanh nghiệp để nâng cao chất lượng đào tạo.
Với Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, hợp tác doanh nghiệp được phát triển theo mô hình đồng sáng tạo giá trị, bao gồm đồng phát triển năng lực thực tiễn, nghiên cứu và chuyển giao tri thức, phát triển tài năng, đổi mới sáng tạo và đầu tư. Cách tiếp cận này hướng tới những giá trị các bên cùng tạo ra, thay vì chỉ dừng ở hoạt động tài trợ, thực tập hoặc tuyển dụng.
Ở góc độ quản lý ngành, ông Trần Nam Tú, Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Thông tin (Bộ Giáo dục và Đào tạo) nhìn nhận hợp tác giữa đại học và doanh nghiệp là điều kiện chứ không còn là lựa chọn. Trên thực tế, mức độ gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp, cũng như khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm ứng dụng, thương mại hóa vẫn còn hạn chế. Một số hoạt động hợp tác vẫn dừng ở ký kết biên bản ghi nhớ hoặc tiếp nhận thực tập, chưa tạo ra kết quả có thể đo lường. Những khó khăn chủ yếu gồm sự khác biệt về mục tiêu hợp tác; vấn đề định giá công nghệ, phân chia lợi ích, quyền sở hữu trí tuệ còn chưa rõ ràng.
Từ thực tế đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo định hướng thúc đẩy mô hình hợp tác giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp theo hướng đồng đầu tư, đồng trách nhiệm và đồng hưởng lợi. Theo đó, Nhà nước kiến tạo thể chế, dẫn dắt đầu tư; nhà trường đào tạo, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo; doanh nghiệp đặt hàng, đồng đầu tư, ứng dụng và thương mại hóa. Trong đó, doanh nghiệp tham gia đồng thiết kế chương trình, chuẩn đầu ra và hướng dẫn sinh viên; nhà trường nghiên cứu xuất phát từ bài toán của doanh nghiệp, địa phương; hai bên thúc đẩy đồng tài trợ và dùng chung phòng thí nghiệm. Để hợp tác tạo ra sản phẩm cụ thể, các bên cần có cam kết dài hạn, nguồn lực đối ứng thực chất.


