Đào tạo nhân lực điện hạt nhân: Từ nhu cầu dự án đến từng vị trí việc làm
Ngày 6/10, tại Hà Nội, Trường Đại học Điện lực tổ chức Hội thảo khoa học “Đào tạo nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển điện hạt nhân tại Việt Nam”. Từ nhu cầu nhân lực cụ thể của các dự án điện hạt nhân Ninh Thuận đến năng lực hiện có của các trường, viện nghiên cứu, các ý kiến tại Hội thảo cho thấy nguồn nhân lực cần được chuẩn bị từ sớm, theo từng vị trí việc làm, gắn với tiến độ dự án và yêu cầu đặc thù về an toàn.
Tham dự Hội thảo có lãnh đạo Trường Đại học Điện lực; đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo, EVN, PVN, Cục An toàn bức xạ, Cục Điện lực, VINATOM, Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân; cùng đại diện Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia TP.HCM, Trường Đại học Đà Lạt, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Trường Cao đẳng Dầu khí, Trường Cao đẳng Điện lực TP.HCM và đông đảo nhà khoa học, chuyên gia, giảng viên, sinh viên.
Hoàn thiện cơ chế phối hợp phát triển nhân lực
Phát biểu khai mạc Hội thảo, PGS.TS. Đinh Văn Châu - Hiệu trưởng Trường Đại học Điện lực nhấn mạnh chuẩn bị nguồn nhân lực là điều kiện nền tảng để phát triển điện hạt nhân. Công việc này phải được triển khai sớm, có lộ trình dài hạn và gắn với từng giai đoạn của dự án; chất lượng nguồn nhân lực phải được thể hiện bằng năng lực thực hiện công việc, ý thức tuân thủ quy trình và trách nhiệm đối với an toàn.

PGS.TS. Đinh Văn Châu - Hiệu trưởng Trường Đại học Điện lực phát biểu đề dẫn Hội thảo
Từ đó, PGS.TS. Đinh Văn Châu đặt ra câu hỏi cho các cơ sở đào tạo: “cần đào tạo ai, cho vị trí nào, theo yêu cầu năng lực nào và bằng phương thức nào” để người học có thể tiếp tục được đào tạo chuyên sâu và tham gia hiệu quả vào thực tiễn nghề nghiệp.
Theo PGS.TS. Đinh Văn Châu, đào tạo nhân lực phục vụ điện hạt nhân có tính liên ngành sâu. Bên cạnh kỹ thuật hạt nhân còn có các lĩnh vực kỹ thuật điện, điều khiển và tự động hóa, cơ khí, vật liệu, xây dựng, công nghệ thông tin và quản lý. Văn hóa an toàn cũng phải được hình thành ngay từ giảng đường, phòng thí nghiệm và từng bài thực hành.
Từ đề dẫn này, Hội thảo tập trung vào nhu cầu nhân lực theo từng nhóm vị trí việc làm; những nội dung cần đổi mới trong chương trình đào tạo; đồng thời xác định cơ chế hợp tác giữa cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp.

Đại diện Viện Năng lượng nguyên tử (VINATOM) phát biểu tại Hội thảo
Từ góc độ viện nghiên cứu, tham luận của Viện Năng lượng nguyên tử (VINATOM) cho thấy quy mô nhân lực cần chuẩn bị cho chương trình điện hạt nhân là rất lớn. Theo số liệu được dẫn tại Hội thảo, hai nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận cần khoảng 3.900 nhân lực trực tiếp; 670 người dự kiến cần đào tạo trình độ đại học ở nước ngoài.
Theo VINATOM, nhân lực không chỉ phục vụ vận hành nhà máy mà phải được chuẩn bị cho toàn bộ vòng đời dự án, từ chuẩn bị đầu tư, thẩm định, xây dựng đến vận hành, bảo dưỡng và tháo dỡ; đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, pháp quy, nghiên cứu - phát triển, hỗ trợ kỹ thuật và ứng phó sự cố.
Từ nhu cầu nhân lực đến khoảng trống đào tạo
Ở góc độ chủ đầu tư, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đưa ra phương án nhân sự cho Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 với quy mô khoảng 1.665 người, gồm khối quản lý, vận hành, sửa chữa và hành chính.
Trong đó, riêng nhóm nhân sự công nghiệp chung về điện, tự động hóa, nhiệt... gồm 696 người. Cơ cấu này cho thấy nhu cầu nhân lực của nhà máy không chỉ tập trung ở kỹ sư hạt nhân mà còn trải rộng sang nhiều ngành kỹ thuật liên quan.
EVN đồng thời xác định lộ trình đào tạo phải đồng bộ với tiến độ xây dựng, lắp đặt và chạy thử nhà máy. Với một số vị trí, thời gian chuẩn bị có thể kéo dài nhiều năm. Theo khung được EVN đưa ra, quá trình đào tạo một kỹ sư hạt nhân có thể kéo dài khoảng 10 năm, gồm ngoại ngữ, đào tạo đại học, đào tạo chuyên sâu theo hợp đồng EPC, thực hành và tham gia giám sát lắp đặt.
Việt Nam cũng đã có một lực lượng được đào tạo từ giai đoạn trước. Theo EVN, 30 kỹ sư điện hạt nhân được đào tạo ở nước ngoài; chương trình với Nga có 429 sinh viên; chương trình với Nhật Bản có 32 người; trong nước, 5 trường đã đào tạo khoảng 1.780 kỹ sư, cử nhân. Tuy nhiên, sau giai đoạn gián đoạn, một phần lực lượng này cần được cập nhật và tái đào tạo để đáp ứng yêu cầu mới.

TS Trần Thị Nhàn, Tổ trưởng Chuyên môn Công nghệ kỹ thuật hạt nhân - khoa Năng lượng & Phát triển bền vững chia sẻ về công tác đào tạo, giảng dạy trong lĩnh vực điện hạt nhân tại Trường Đại học Điện lực
Từ phía cơ sở đào tạo, Trường Đại học Điện lực cho biết chương trình Công nghệ kỹ thuật hạt nhân được triển khai từ năm 2012; đến năm 2021 đã có 188 kỹ sư tốt nghiệp chuyên ngành Điện hạt nhân. Quy mô người học tăng từ 29 sinh viên năm 2025 lên 108 sinh viên năm 2026; riêng chuyên ngành Điện hạt nhân tăng từ 25 lên 98 sinh viên.
Tuy nhiên, báo cáo của Nhà trường cũng chỉ rõ những khoảng trống về chuyên gia có kinh nghiệm thực tế tại nhà máy, nội dung đào tạo chuyên sâu theo công nghệ cụ thể, cơ hội thực tập, thiết bị mô phỏng và hạ tầng chuyên dụng.
Ở góc độ chuẩn quốc tế, tham luận của Đại học Bách khoa Hà Nội giới thiệu cách tiếp cận SAT - Systematic Approach to Training của IAEA, theo đó chương trình đào tạo được xây dựng từ năng lực cần thiết cho từng vị trí công việc, bao gồm kiến thức, kỹ năng và thái độ.
Các tham luận của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQG TP.HCM và Trường Đại học Đà Lạt cũng đặt ra yêu cầu cập nhật chương trình, phát triển đội ngũ giảng viên, tăng đầu tư phòng thí nghiệm, công cụ mô phỏng và mở rộng hợp tác với viện nghiên cứu, doanh nghiệp, đối tác quốc tế.
Từ nhu cầu nhân lực đến cơ chế phối hợp
Sau các báo cáo chuyên đề, Hội thảo dành phiên cuối để thảo luận về nhu cầu nhân lực, chính sách và hợp tác phát triển nguồn nhân lực điện hạt nhân.
Phiên thảo luận có sự tham gia của đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo, EVN, PVN, Cục An toàn bức xạ, VINATOM, các cơ sở đào tạo và Trường Đại học Điện lực. Nội dung tập trung vào nhu cầu nhân lực, cơ chế chính sách và các giải pháp tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong phát triển nguồn nhân lực điện hạt nhân.

Phiên thảo luận có sự tham gia của đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo, EVN, PVN, Cục An toàn bức xạ, VINATOM, các cơ sở đào tạo và Trường Đại học Điện lực
Đây cũng là yêu cầu đặt ra trong việc gắn nhu cầu của dự án với khả năng đáp ứng của hệ thống đào tạo. Khi một số vị trí cần nhiều năm chuẩn bị, quy mô và nội dung đào tạo cần được xây dựng trên cơ sở dự báo cụ thể về số lượng, cơ cấu chuyên môn và thời điểm sử dụng nhân lực.
Khép lại Hội thảo, trọng tâm được đặt vào việc đưa các đề xuất từ thảo luận vào những nhiệm vụ cụ thể về đào tạo, nghiên cứu và hợp tác. Trường Đại học Điện lực sẽ tổng hợp báo cáo, ý kiến thảo luận và đề xuất hợp tác để xác định các ưu tiên về đào tạo, nghiên cứu và đầu tư; đồng thời rà soát chương trình theo yêu cầu từng nhóm vị trí việc làm, chú trọng thực hành, ngoại ngữ chuyên ngành, khả năng làm việc theo quy trình và văn hóa an toàn.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Hội thảo khoa học về đào tạo nhân lực phục vụ phát triển điện hạt nhân tại Việt Nam.
Nhà trường cũng định hướng tăng cường hợp tác với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và các cơ sở đào tạo thông qua các chuyên đề có chuyên gia tham gia giảng dạy, bồi dưỡng giảng viên, thực hành, thực tập và các nhiệm vụ nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tế.
Từ câu hỏi “cần đào tạo ai, cho vị trí nào”, các ý kiến tại Hội thảo cho thấy việc chuẩn bị nhân lực điện hạt nhân cần gắn chặt với yêu cầu năng lực của từng vị trí việc làm và lộ trình triển khai dự án, thay vì chỉ tập trung vào mở rộng quy mô đào tạo.



