Đất nông lâm trường: Khơi thông nguồn lực, nhưng không đánh đổi môi trường
Việc Hà Nội quyết liệt xử lý tồn tại đất nông, lâm trường mở ra cơ hội khơi thông nguồn lực đất đai, song cần đặt hiệu quả kinh tế trong giới hạn tài nguyên và môi trường.
Hà Nội đang đẩy nhanh việc xử lý những tồn tại kéo dài liên quan đến đất có nguồn gốc nông, lâm trường, với mục tiêu thống nhất quản lý, sử dụng đúng mục đích và khai thác hiệu quả quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Thành phố yêu cầu hoàn tất việc bàn giao đất nông, lâm trường về UBND các xã, phường quản lý trước ngày 15/9/2026; đồng thời xây dựng phương án sử dụng đất phù hợp quy hoạch, hiệu quả và đúng mục đích.

Cuộc họp về tình hình quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường trên địa bàn thành phố Hà Nội, chiều 17/8. Ảnh: Trung tâm Báo chí Thủ đô.
Đáng chú ý, câu chuyện đất nông, lâm trường không đơn thuần là xử lý hồ sơ, xác lập ranh giới hay hoàn thiện thủ tục pháp lý. Nhìn từ góc độ kinh tế môi trường, đây còn là bài toán phân bổ lại một nguồn lực hữu hạn, trong đó mỗi quyết định sử dụng đất hôm nay sẽ tác động trực tiếp đến cấu trúc kinh tế, sinh thái và chất lượng phát triển của Thủ đô trong nhiều năm tới.
Trươc đó, Tạp chí Kinh tế Môi trường cũng có bài viết Chặn đứng “hiệu ứng domino” ven đô: Hà Nội cần làm gì để không còn những “Đồng Đò thứ hai, thứ ba”? đưa ra những phân tích đánh giá về việc quản lý chặt chẽ việc sử dụng đất nông lâm nghiệp và mặt nước ở khu vực hồ Đòng Đò của Hà Nội. Những kiến nghị giải pháp trong bài viết đưa ra rất cần được các cơ quan quản lý nhà nước lưu tâm.
Từ quỹ đất bị ách tắc đến nguồn lực phát triển
Thực tế tại Hà Nội cho thấy quá trình quản lý đất nông, lâm trường tồn tại nhiều vấn đề kéo dài. Một số đơn vị đã bàn giao một phần diện tích nhưng chưa hoàn tất thủ tục pháp lý; một số diện tích doanh nghiệp không còn nhu cầu sử dụng nhưng chưa được bàn giao đầy đủ. Tại một số địa phương, đất có nguồn gốc nông, lâm trường còn liên quan đến hàng trăm hộ dân đang sinh sống ổn định, trong khi chính quyền gặp khó khăn trong quản lý do quyền sử dụng, quản lý đất chưa được thống nhất.
Những bất cập này tạo ra một dạng chi phí cơ hội rất lớn. Một diện tích đất không được quản lý thống nhất, không được đưa vào phương án sử dụng phù hợp đồng nghĩa với việc nguồn lực đất đai chưa được khai thác đầy đủ. Trong khi đó, nhu cầu về không gian cho phát triển hạ tầng, sản xuất, nông nghiệp, đô thị và các dự án kinh tế của Hà Nội ngày càng lớn.
Việc thành phố yêu cầu rà soát, phân loại, bàn giao và lập phương án sử dụng đất vì thế có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi xử lý tồn tại lịch sử. Đây là quá trình tái lập trật tự quản trị tài nguyên đất đai, qua đó đưa nguồn lực đất trở lại đúng chức năng của nó trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, “khơi thông nguồn lực” không đồng nghĩa với việc tìm mọi cách để chuyển đất sang những mục đích có giá trị thương mại cao nhất trong ngắn hạn. Đây chính là điểm cần nhìn nhận từ kinh tế môi trường.
Giá trị của một khu đất không chỉ nằm ở khả năng tạo ra doanh thu. Đất nông nghiệp có giá trị sản xuất lương thực, duy trì sinh kế và bảo đảm an ninh sinh thái. Đất rừng có giá trị về đa dạng sinh học, điều tiết nước, chống xói mòn, hấp thụ carbon. Những không gian xanh cũng góp phần điều hòa khí hậu và giảm áp lực môi trường cho đô thị.
Nếu chỉ tính giá trị kinh tế trực tiếp mà bỏ qua các giá trị dịch vụ hệ sinh thái, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất có thể tạo ra lợi ích trước mắt nhưng đồng thời làm phát sinh chi phí xã hội về lâu dài.
Vì vậy, bài toán đặt ra cho Hà Nội không phải đơn giản là “đất nào còn trống thì đưa vào khai thác”, mà phải là đất được sử dụng vào đâu để tạo ra tổng giá trị kinh tế - xã hội - môi trường lớn nhất.
Đây cũng là lý do yêu cầu của thành phố về việc lập phương án sử dụng đất phải bảo đảm đúng mục đích, phù hợp quy hoạch và hiệu quả là đặc biệt quan trọng.
Định giá đúng đất đai để tránh “lợi trước mắt, chi phí lâu dài”
Một trong những vấn đề cần quan tâm khi xử lý quỹ đất nông, lâm trường là định giá đầy đủ giá trị của tài nguyên đất. Trong kinh tế truyền thống, hiệu quả sử dụng đất thường được nhìn thông qua năng suất, doanh thu, tiền thuê đất hoặc nguồn thu ngân sách. Nhưng với kinh tế môi trường, cần tính thêm những giá trị khó nhìn thấy trên thị trường.

Một khu vực có dấu hiệu bị san gạt, cải tạo mặt bằng giữa rừng phòng hộ Sóc Sơn, xã Kim Anh, Hà Nội. Ảnh: Trung Nguyên/TTXVN
Chẳng hạn, một khu đất nông nghiệp nếu chuyển đổi sang mục đích xây dựng có thể tạo ra giá trị bất động sản lớn hơn. Nhưng nếu việc chuyển đổi làm mất diện tích đất sản xuất, giảm khả năng thấm nước, tăng bề mặt bê tông và làm gia tăng nguy cơ ngập úng, thì những chi phí đó cũng phải được tính vào bài toán.
Tương tự, nếu đất có chức năng sinh thái bị chuyển đổi, chi phí phục hồi hệ sinh thái hoặc chi phí xã hội do suy giảm chất lượng môi trường không thể xem là “chi phí bên ngoài”. Đó chính là ngoại tác môi trường.
Do vậy, khi xây dựng phương án sử dụng quỹ đất nông, lâm trường, Hà Nội cần đặt ra nguyên tắc: không tối đa hóa giá trị của đất bằng mọi giá, mà tối ưu hóa tổng giá trị mà đất mang lại cho nền kinh tế và xã hội.
Một khu đất có thể không tạo ra doanh thu lớn nhất, nhưng nếu duy trì được sản xuất nông nghiệp, tạo việc làm, bảo vệ nguồn nước và giảm áp lực môi trường thì tổng giá trị xã hội có thể cao hơn nhiều.
Ở chiều ngược lại, những diện tích thực sự không còn phù hợp với chức năng nông nghiệp, lâm nghiệp có thể được nghiên cứu để chuyển sang mục đích khác, nhưng phải dựa trên quy hoạch, sức chịu tải hạ tầng và môi trường, đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch.
Đây là điểm đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Hà Nội đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao. Thành phố đang yêu cầu các sở, ngành và địa phương lập phương án sử dụng đất nông, lâm trường, đồng thời rà soát quy hoạch để phát huy hiệu quả quỹ đất.
Sau khi tiếp nhận đất, một nhiệm vụ quan trọng khác là ngăn chặn tình trạng lấn chiếm, xây dựng trái phép và sử dụng sai mục đích. Thành phố yêu cầu các địa phương cắm mốc, quản lý, bảo vệ quỹ đất và chịu trách nhiệm nếu phát sinh vi phạm mới.
Nhưng quản lý chặt chẽ mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là phải tổ chức lại không gian sử dụng đất theo hướng hiệu quả và bền vững.
Đối với đất nông nghiệp, cần ưu tiên các mô hình nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp tuần hoàn, vùng sản xuất tập trung và những mô hình có khả năng tạo giá trị gia tăng cao trên cùng một đơn vị diện tích.
Đối với đất lâm nghiệp, cần nhìn nhận rừng không chỉ là nơi cung cấp gỗ mà còn là “hạ tầng sinh thái” của thành phố và vùng Thủ đô. Giá trị hấp thụ carbon, bảo vệ đất, điều tiết nước và duy trì đa dạng sinh học cần được tính đến trong phương án quản lý.
Đối với những diện tích phù hợp phát triển đô thị, công nghiệp hoặc hạ tầng, cần đánh giá đồng thời tác động đến giao thông, cấp thoát nước, chất lượng không khí, chất thải và khả năng chịu tải của hệ thống hạ tầng.
Đặc biệt, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất cần tránh tạo ra những “điểm nóng” phát triển thiếu đồng bộ: đất được đưa vào khai thác nhưng hạ tầng không theo kịp, dẫn đến ùn tắc, ngập úng, thiếu không gian xanh và gia tăng chi phí xã hội.
Về lâu dài, Hà Nội cần chuyển từ tư duy quản lý từng thửa đất sang quản trị không gian và hệ sinh thái đất đai.
Việc cập nhật dữ liệu đất nông, lâm trường vào hệ thống dữ liệu dùng chung là một bước quan trọng theo hướng này. Khi dữ liệu về nguồn gốc, hiện trạng, ranh giới, quy hoạch và nghĩa vụ tài chính được thống nhất, việc ra quyết định sử dụng đất sẽ minh bạch và dựa trên bằng chứng hơn.
Cùng với đó, việc rà soát và truy thu nghĩa vụ tài chính về đất cũng có ý nghĩa lớn. Đây chính là quá trình nội hóa chi phí và giá trị của tài nguyên đất: người sử dụng đất phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, trong khi xã hội phải nhận được lợi ích tương xứng từ việc sử dụng một nguồn lực công cộng hữu hạn.
Hà Nội đang đứng trước cơ hội xử lý một khối lượng tồn tại đất đai kéo dài nhiều năm và biến quỹ đất nông, lâm trường thành nguồn lực phục vụ phát triển. Nhưng thành công của quá trình này không nên được đo bằng diện tích đất đã bàn giao hay số thủ tục đã hoàn tất.
Thước đo quan trọng hơn là bao nhiêu giá trị kinh tế - xã hội được tạo ra mà không làm suy giảm vốn tự nhiên.
Nếu làm được điều đó, việc xử lý đất nông, lâm trường sẽ không chỉ là một cuộc “dọn dẹp” những tồn tại lịch sử về quản lý đất đai, mà có thể trở thành một bước trong quá trình tái cấu trúc không gian phát triển của Hà Nội theo hướng xanh hơn, hiệu quả hơn và bền vững hơn.
Đất đai khi đó không chỉ là tài sản để khai thác, mà trở thành nguồn vốn tự nhiên cần được quản trị dài hạn. Và giá trị lớn nhất của việc khơi thông nguồn lực đất đai không phải là khai thác được bao nhiêu trong hôm nay, mà là tạo ra được bao nhiêu giá trị bền vững cho nền kinh tế và các thế hệ tương lai.
