Dấu ấn của nhà cách mạng tiền bối Hồ Tùng Mậu với công tác đào tạo cán bộ

Trong lịch sử hào hùng của cách mạng Việt Nam, đồng chí Hồ Tùng Mậu hiện thân như một biểu tượng của lòng trung kiên, trí tuệ và sự tận hiến. Không chỉ là một nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng, ông còn là người đặt nền móng vững chắc cho công tác huấn luyện quân sự tại dải đất miền Trung nắng gió. Trong thời gian phụ trách Trường Quân chính Chiến khu 4, bằng tầm nhìn chiến lược và tư duy sáng tạo, đồng chí đã đào tạo nên những lớp cán bộ nòng cốt trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Chân dung nhà cách mạng tiền bối Hồ Tùng Mậu (1896-1951). Ảnh: Tư liệu

Chân dung nhà cách mạng tiền bối Hồ Tùng Mậu (1896-1951). Ảnh: Tư liệu

Đồng chí Hồ Tùng Mậu, tên khai sinh là Hồ Bá Cự, sinh ngày 15/6/1896 tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (nay là xã Quỳnh Anh, tỉnh Nghệ An). Khi xuất dương sang Thái Lan, đồng chí đổi tên là Hồ Tùng Mậu và trở thành tên gọi chính thức trong quá trình hoạt động cách mạng. Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước, có ông nội là Phó bảng Hồ Bá Ôn và cha là chí sĩ Hồ Bá Kiện đều nêu cao khí tiết yêu nước, ý chí cách mạng đã sớm hình thành trong ông. Từ năm 1920, ông hoạt động cách mạng ở Lào, Thái Lan, Trung Quốc. Tại Quảng Châu, ông cùng các đồng chí Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn và một số nhà yêu nước Việt Nam thành lập nhóm “Tâm Tâm xã”.

Khi gặp Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc năm 1924, Hồ Tùng Mậu được giác ngộ lý tưởng Cộng sản, trở thành học trò xuất sắc và cộng sự đắc lực của Người trong việc sáng lập “Cộng sản Đoàn” và “Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên”. Ông trực tiếp tham gia tổ chức các lớp huấn luyện “Chính trị đặc biệt” do Nguyễn Ái Quốc mở tại Quảng Châu, bắt đầu bộc lộ tư duy chiến lược của một nhà giáo dục cách mạng. Trong cuộc đời hoạt động, dù phải trải qua nhiều nhà lao của đế quốc, chịu cảnh tra tấn dã man, Hồ Tùng Mậu vẫn giữ vững khí tiết, biến nhà tù thành trường học để ươm mầm cán bộ.

Mùa xuân năm 1930, đồng chí Hồ Tùng Mậu là “người giúp việc và thư ký” trong Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1941, sau khi được trả tự do, dù vẫn bị quản thúc, ông tiếp tục tích cực tham gia chuẩn bị lực lượng, góp phần vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, năm 1946, trên cương vị Chính ủy Chiến khu 4, đồng chí Hồ Tùng Mậu được giao phụ trách, kiêm Chính ủy Trường Quân chính Chiến khu 4 ở Nhượng Bạn, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, nhằm đào tạo cán bộ quân sự phục vụ kháng chiến, kiến quốc. Trong bối cảnh thiếu thốn trăm bề, đồng chí đã chỉ đạo mở các khóa huấn luyện cấp tốc để cung cấp cán bộ cho lực lượng Vệ quốc đoàn và các đoàn quân Nam tiến. Dưới sự chỉ đạo của ông, chương trình đào tạo từng bước được bổ sung, thời gian học từ 2 tháng nâng lên 6 tháng, với nội dung toàn diện về quân sự, chính trị và hậu cần. Tầm nhìn ấy đã tạo ra nguồn lực quan trọng, góp phần đào tạo nên nhiều cán bộ, tướng lĩnh tài năng sau này cho Quân đội.

Đồng chí Hồ Tùng Mậu luôn đề cao nguyên tắc lý luận phải gắn liền với thực tiễn. Sự kiện thể hiện rõ triết lý này của ông là trận đánh ngày 17/6/1946 tại Cửa Nhượng. Khi tàu chiến của lực lượng quân đội Trung Hoa Dân quốc tiến vào vùng biển Cửa Nhượng, ông đã trực tiếp chỉ huy cán bộ, học viên phối hợp với dân quân địa phương chiến đấu. Trong điều kiện trang bị vũ khí thô sơ, Chính ủy Hồ Tùng Mậu đã có sáng kiến huy động 5 thuyền đánh cá của ngư dân, mỗi thuyền bố trí 3 học viên và 2 dân quân để bao vây tàu địch. Sự sáng tạo này cho thấy khả năng linh hoạt trong sử dụng lực lượng và phương tiện tại chỗ, lấy yếu chống mạnh, một tư duy quân sự sắc sảo của người đứng đầu nhà trường. Đây không chỉ là một trận đánh bảo vệ địa bàn mà còn là “bài thực tập” thực tế rất giá trị, giúp học viên rèn luyện bản lĩnh, tinh thần sẵn sàng hy sinh bảo vệ nhân dân.

Trong thời gian ở Nhượng Bạn, hình ảnh Chính ủy Hồ Tùng Mậu bình dị cưỡi ngựa đi nắm bắt tình hình đời sống nhân dân, ân cần thăm hỏi các cháu thiếu nhi đã in đậm trong tâm trí người dân. Dù vừa trải qua nạn đói năm 1945, nhân dân địa phương vẫn nhường cơm sẻ áo, cung cấp thực phẩm và thuốc men để thầy trò nhà trường hoàn thành khóa học. Mối quan hệ quân-dân gắn kết này chính là điểm tựa vững chắc để nhà trường tồn tại và phát triển.

Trong thời gian đảm nhiệm chức vụ được giao tại Trường Quân chính Chiến khu 4, đồng chí Hồ Tùng Mậu đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, góp phần quan trọng đào tạo hàng trăm cán bộ chỉ huy và chính ủy viên cấp đại đội, tiểu đoàn cho lực lượng Vệ quốc đoàn và các đoàn quân Nam tiến, được Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao.

Đồng chí Hồ Tùng Mậu (thứ 2 từ phải sang) và một số đại biểu chụp ảnh kỷ niệm tại Hội nghị toàn quốc lần thứ III của Đảng (từ ngày 21/1/1950 đến ngày 3/2/1950). Ảnh: Tư liệu

Đồng chí Hồ Tùng Mậu (thứ 2 từ phải sang) và một số đại biểu chụp ảnh kỷ niệm tại Hội nghị toàn quốc lần thứ III của Đảng (từ ngày 21/1/1950 đến ngày 3/2/1950). Ảnh: Tư liệu

Ngày 23/7/1951, đồng chí Hồ Tùng Mậu hy sinh trên đường đi công tác. Đây là một tổn thất vô cùng lớn lao của cách mạng Việt Nam. Trong niềm đau xót vô hạn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tự tay viết lời điếu văn đầy xúc động: “Về tình nghĩa riêng: Tôi với chú là đồng chí, lại là thân thiết hơn anh em ruột”[1]. Về công việc chung: “Mất chú, đồng bào mất một người lãnh đạo tận tụy, Chính phủ mất một người cán bộ lão luyện, Đoàn thể mất một người đồng chí trung thành, và tôi mất một người anh em chí thiết”[2]. Qua lời điếu cho thấy không chỉ là mối quan hệ đặc biệt giữa hai người cộng sản mà còn là sự ghi nhận cao nhất về một nhân cách văn hóa, một tấm gương đạo đức sáng ngời.

Cuộc đời 55 năm với 31 năm hoạt động cách mạng không mệt mỏi của đồng chí Hồ Tùng Mậu đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận bằng những phần thưởng cao quý nhất. Ngay sau khi ông hy sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh. Đến năm 2008, đồng chí được truy tặng Huân chương Sao Vàng-huân chương cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam. Những phần thưởng này là sự khẳng định về những đóng góp của đồng chí Hồ Tùng Mậu đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.

Di sản mà đồng chí Hồ Tùng Mậu để lại vẫn vẹn nguyên giá trị trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước hôm nay. Trước hết, đó là bài học về sự kiên định lý tưởng và bản lĩnh chính trị. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, cán bộ, đảng viên cần kiên định với lý tưởng cách mạng, giữ vững niềm tin, không dao động trước mọi khó khăn, thử thách. Thứ hai, đó là phong cách sâu sát thực tiễn, gần dân và thân dân. Việc lấy lợi ích của nhân dân làm trung tâm trong mọi quyết sách như cách Hồ Tùng Mậu đã làm là chìa khóa để củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước. Đây cũng là quan điểm được Đảng ta khẳng định: “Dân là gốc”, thực hiện “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”. Cuối cùng, đó là tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo. Năng lực thực tiễn và khả năng thích ứng linh hoạt của ông chính là hình mẫu để đội ngũ cán bộ hiện nay học tập nhằm đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới, với tinh thần “7 dám”, “6 rõ”.

Tựu trung lại, cuộc đời đồng chí Hồ Tùng Mậu là một mẫu mực về lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân. Hình ảnh người Chính ủy tâm huyết tại Trường Quân chính Chiến khu 4 năm xưa mãi là ngọn đuốc sáng soi đường cho các thế hệ hôm nay trên hành trình xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường và thịnh vượng, như lời nhắn gửi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tới anh linh đồng chí Hồ Tùng Mậu: “Toàn thể đồng sự và đồng chí sẽ cố gắng noi gương đạo đức cách mạng của chú, noi gương chú đã tận trung với nước, tận hiếu với dân”[3].

[1] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7 (1951-1952), Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.148.

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7 (1951-1952), Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.148.

[3] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 7 (1951-1952), Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.149.

Nguyên Vũ

Nguồn Biên Phòng: https://bienphong.com.vn/dau-an-cua-nha-cach-mang-tien-boi-ho-tung-mau-voi-cong-tac-dao-tao-can-bo-post504660.html