Dấu ấn hơn nửa thế kỷ quan hệ hợp tác Việt Nam - Nhật Bản

Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21/9/1973, quan hệ Việt Nam - Nhật Bản không ngừng phát triển, từ Đối tác tin cậy, ổn định lâu dài lên Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới.

Ngày 21/9/1973, Đại biện lâm thời Đại sứ quán nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Pháp Võ Văn Sung và Đại sứ Nhật Bản tại Pháp Nakayama Yoshihiro ký công hàm trao đổi thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Nhật Bản.

Việt Nam và Nhật Bản đã lần lượt xác lập khuôn khổ quan hệ từ Đối tác tin cậy, ổn định lâu dài (năm 2002) lên Đối tác chiến lược vì hòa bình và thịnh vượng ở châu Á (năm 2009), Đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và thịnh vượng ở châu Á (năm 2014) và Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới ngày 27/11/2023.

Hơn 50 năm xây dựng và nâng tầm quan hệ

Trong giai đoạn 1973-1992, quan hệ hai nước còn ở mức khá khiêm tốn, các hoạt động trao đổi cấp cao không nhiều, hợp tác kinh tế và các lĩnh vực khác hạn chế. Nội dung hợp tác chủ yếu là Nhật Bản cung cấp một số khoản viện trợ không hoàn lại quy mô nhỏ cho Việt Nam; hoạt động thương mại chủ yếu thông qua một số tập đoàn thương mại Nhật Bản như Marubeni, Itochu…

Sau khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới mở cửa kinh tế, triển khai chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, quan hệ giữa hai bên có chuyển biến tích cực, trước hết ở lĩnh vực kinh tế, đặt ra nhu cầu thúc đẩy quan hệ trên các lĩnh vực.

Tháng 11/1992, Nhật Bản nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam, mở ra chương mới cho quan hệ hai nước. Nhiều cơ chế hợp tác được thành lập và triển khai hiệu quả, tiêu biểu là cơ chế họp Ủy ban hợp tác Việt Nam - Nhật Bản do Bộ trưởng Ngoại giao hai nước làm đồng Chủ tịch.

Từ 2009 đến nay, quan hệ hai nước tiếp tục có tiến triển vượt bậc. Tin cậy chính trị được tăng cường, giao lưu, tiếp xúc cấp cao và các cấp được đẩy mạnh trên các kênh Đảng, Nhà nước, Quốc hội. Đặc biệt, Thủ tướng Shinzo Abe (1/2013) và Thủ tướng Suga Yoshihide (10/2020) đều chọn Việt Nam là nước đầu tiên đi thăm sau khi nhậm chức, lãnh đạo cấp cao Việt Nam chọn Nhật Bản là nơi thường xuyên đi thăm hàng năm.

Nhật Bản hiện là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam. Hợp tác địa phương, văn hóa, kết nối nguồn nhân lực và giao lưu nhân dân giữa hai nước ngày càng mật thiết và hiệu quả.

Nhật Bản là nước G7 đầu tiên đón Tổng Bí thư Việt Nam đi thăm (năm 1995), nước G7 đầu tiên thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược với Việt Nam (năm 2009), nước G7 đầu tiên công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam (năm 2011), nước G7 đầu tiên 2 lần mời Việt Nam tham dự Hội nghị Thượng đỉnh G7 mở rộng (5/2016, 5/2023), nước đầu tiên hỗ trợ vaccine COVID-19 (5,6 triệu liều) cho Việt Nam trong đại dịch COVID-19.

Hoạt động trao đổi đoàn cấp cao được duy trì thường xuyên. Hai nước duy trì nhiều cơ chế hợp tác quan trọng như Ủy ban Hợp tác Việt - Nhật; Ủy ban hỗn hợp về thương mại, năng lượng và công nghiệp; Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản; Đối thoại Nông nghiệp cấp Bộ trưởng; Ủy ban hỗn hợp về khoa học công nghệ cấp Thứ trưởng; Đối thoại Đối tác chiến lược Việt Nam - Nhật Bản về ngoại giao - an ninh - quốc phòng cấp Thứ trưởng ngoại giao (từ 2010) được nâng cấp lên Đối thoại 2+2 cấp Thứ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng (từ tháng 12/2025); Đối thoại Chính sách quốc phòng Việt - Nhật cấp Thứ trưởng; Đối thoại An ninh cấp Thứ trưởng; Đối thoại về an ninh biển.

Hợp tác kinh tế ngày càng sâu rộng

Nhật Bản là nước tài trợ ODA và là đối tác hợp tác lao động lớn nhất, nhà đầu tư số 3, đối tác du lịch và thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam.

Trong lĩnh vực thương mại, hai nước đã dành cho nhau thuế suất tối huệ quốc từ năm 1999. Kim ngạch thương mại song phương tăng từ 27,4 tỷ USD năm 2014 lên khoảng 52 tỷ USD năm 2025, tăng 11% so với năm 2024.

Trong 9 tháng đầu năm 2026, thương mại hai chiều đạt 43,71 tỷ USD, tăng 15,34% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản 23,18 tỷ USD và nhập khẩu từ Nhật Bản 20,53 tỷ USD.

Về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tính lũy kế đến ngày 30/9/2026, Nhật Bản có khoảng 5.872 dự án còn hiệu lực tại Việt Nam, với tổng vốn đăng ký hơn 81 tỷ USD, đứng thứ ba trong số 154 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Riêng 9 tháng đầu năm 2026, tổng vốn đăng ký đầu tư của Nhật Bản đạt 2,65 tỷ USD.

Hiện có khoảng 2.000 doanh nghiệp Nhật Bản hoạt động tại Việt Nam, tập trung chủ yếu vào công nghiệp chế biến, chế tạo (61%), sản xuất và phân phối điện (15%), kinh doanh bất động sản (12%). Các dự án hiện diện tại 33/34 tỉnh, thành phố, trong đó những địa phương thu hút vốn đầu tư Nhật Bản nhiều nhất là Thành phố Hồ Chí Minh, Thanh Hóa, Hà Nội, Hải Phòng và Đồng Nai.

Ở chiều ngược lại, tính đến ngày 30/9/2026, Việt Nam có 137 dự án đầu tư cấp mới tại Nhật Bản với tổng vốn đăng ký gần 19,88 triệu USD và 31 lượt điều chỉnh tăng vốn trị giá hơn 32,86 triệu USD, đưa tổng vốn đăng ký lũy kế lên hơn 52,74 triệu USD. Đầu tư của Việt Nam tập trung chủ yếu vào lĩnh vực thông tin và truyền thông, với 64 dự án, tổng vốn 36,72 triệu USD, chiếm 69,63%; tiếp đến là bán buôn, bán lẻ, sửa chữa phương tiện và dịch vụ lưu trú, ăn uống.

Bên cạnh đó, khoảng 80 doanh nghiệp Việt Nam đang kinh doanh tại Nhật Bản, chủ yếu trong lĩnh vực công nghệ thông tin, với doanh thu khoảng 1 tỷ USD/năm.

Về viện trợ phát triển chính thức ODA, Nhật Bản là nước cung cấp vốn vay bằng đồng yen lớn nhất cho Việt Nam, với tổng giá trị vay đến hết năm tài khóa 2025 khoảng 2.550 tỷ yen, tương đương hơn 23 tỷ USD, chiếm trên 26% tổng vốn ký kết vay nước ngoài của Chính phủ Việt Nam.

Nguồn vốn ODA của Nhật Bản tập trung vào 4 lĩnh vực là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế; cải thiện về mặt xã hội và rút ngắn chênh lệch phát triển; bảo vệ môi trường ứng phó biến đổi khí hậu; nâng cao năng lực quản lý hành chính.

Về hợp tác nông nghiệp, hai bên đã ký kết và triển khai Tầm nhìn trung và dài hạn trong hợp tác nông nghiệp Việt Nam - Nhật Bản. Hai nhất trí hợp tác chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ nhằm bảo đảm an ninh lương thực hai nước.

Trong lĩnh vực ứng phó biến đổi khí hậu, Nhật Bản liên tục cung cấp ODA những năm gần đây cho các dự án ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt Nam.

Hợp tác lao động tiếp tục phát triển thông qua các thỏa thuận về tiếp nhận điều dưỡng viên, hộ lý, thực tập sinh kỹ năng và lao động kỹ năng đặc định. Hai nước đã ký Bản ghi nhớ hợp tác về chế độ thực tập sinh kỹ năng tháng 6/2017 và chế độ lao động kỹ năng đặc định tháng 5/2019.

Việt Nam hiện là quốc gia phái cử lao động nhiều nhất trong số 15 nước tham gia chương trình đưa lao động sang Nhật Bản, với khoảng 310.000 người. Trong 9 tháng đầu năm 2026, gần 41.000 lao động Việt Nam sang Nhật Bản làm việc, chiếm khoảng 39,8% tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.

Trong giáo dục và đào tạo, Việt Nam là quốc gia đầu tiên trên thế giới chính thức đưa tiếng Nhật vào giảng dạy ở bậc trung học cơ sở từ năm 2003 và tiểu học từ năm 2019.

Nhật Bản là một trong những nước viện trợ lớn nhất cho ngành giáo dục - đào tạo Việt Nam thông qua các chương trình ODA, đã hỗ trợ nâng cấp 4 trường đại học Việt Nam đạt chất lượng cao và đang hợp tác xây dựng Trường Đại học Việt - Nhật nhằm đào tạo nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học công nghệ, quản lý và dịch vụ. Số lưu học sinh Việt Nam tại Nhật Bản hiện đạt hơn 51.000 người.

Mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực mới

Cùng với các lĩnh vực hợp tác truyền thống, hợp tác trong lĩnh vực mới như chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, AI, bán dẫn,… ngày càng được chú trọng thúc đẩy. Hai bên đã thống nhất được danh mục 15 dự án với tổng số vốn khoảng 20 tỷ USD ưu tiên triển khai trong lĩnh vực năng lượng xanh, trong đó một số dự án đã được triển khai như các dự án về mạng lưới truyền tải điện, dự án điện sinh khối...

Đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao được xác định là trụ cột kinh hợp tác mới từ năm 2025. Hai bên đã nhất trí về danh mục các nội dung ưu tiên hợp tác, gồm các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, công nghệ vũ trụ, chuyển đổi số và công nghệ công tin - truyền thông (ICT), công nghệ lượng tử, an ninh kinh tế và công nghệ chiến lược, nghiên cứu chung đào tạo nhân lực chất lượng cao.

Trong lĩnh vực y tế, hai nước hợp tác về trang thiết bị, dây chuyền sản xuất và đào tạo nhân lực. Nhật Bản hỗ trợ Việt Nam thông qua viện trợ không hoàn lại và các khoản vay ODA để xây dựng cơ sở vật chất cho một số bệnh viện, trong đó có Bạch Mai và Chợ Rẫy.

Hợp tác du lịch cũng được đẩy mạnh. Hai nước thiết lập Ủy ban Hợp tác du lịch Việt Nam - Nhật Bản từ năm 2005, duy trì họp hai năm một lần và ký Tuyên bố chung về hợp tác du lịch năm 2025. Trong năm 2025, Việt Nam đón hơn 810.000 lượt khách Nhật Bản, trong khi khoảng 680.000 lượt khách Việt Nam đến Nhật Bản.

Giao lưu nhân dân và hợp tác địa phương ngày càng gắn bó

Bên cạnh hợp tác ở cấp trung ương, quan hệ giữa các địa phương Việt Nam và Nhật Bản ngày càng được mở rộng, với hơn 110 văn bản hợp tác đã được ký kết.

Một số quan hệ hợp tác địa phương tiêu biểu gồm Thành phố Hồ Chí Minh - Osaka (2007), Thành phố Hồ Chí Minh - Nagano (2017), Hà Nội - Fukuoka (2008), Hà Nội - Tokyo (2013), Đà Nẵng - Sakai (2009), Đà Nẵng - Yokohama (2013), Phú Thọ - Nara (2014), Huế - Kyoto (2014), Hưng Yên - Kanagawa (2015) và Hải Phòng - Niigata (2015).

Hai nước cũng phối hợp tổ chức Diễn đàn Hợp tác địa phương Việt Nam - Nhật Bản dưới sự đồng bảo trợ của Thủ tướng hai nước. Diễn đàn lần thứ nhất được tổ chức tại Quảng Ninh tháng 11/2025, lần thứ hai tại Huế tháng 9/2026 và hai bên đang chuẩn bị tổ chức lần thứ ba.

Cộng đồng người Việt Nam tại Nhật Bản hiện đạt gần 700.000 người, chiếm khoảng 16,5% tổng số người nước ngoài tại Nhật Bản, tăng khoảng 47.000 người, tương đương 7,4% so với cùng kỳ năm 2025, đa phần là người Việt trẻ. Trong đó, thực tập sinh kỹ năng và điều dưỡng viên chiếm tỷ lệ lớn nhất, tiếp đến là lưu học sinh và nghiên cứu sinh. Số trí thức, lao động chất lượng cao Việt Nam tại Nhật Bản cũng ngày càng tăng, với khoảng 7.000 kỹ sư và chuyên gia công nghệ thông tin.

Người Việt Nam hiện sinh sống tại cả 47 tỉnh, thành phố của Nhật Bản, tập trung đông tại Aichi (67.842 người), Osaka (67.611 người), Tokyo (57.267 người), Saitama (50.331 người), Kanagawa (43.152 người), Chiba (39.806 người), Hyogo (32.933 người), Fukuoka (23.169 người), Shizuoka (20.933 người) và Ibaraki (20.704 người).

Cộng đồng người Việt Nam tại Nhật Bản hiện có hơn 40 hội đoàn, góp phần duy trì các hoạt động giao lưu, kết nối giữa người dân hai nước.

An Bình

Nguồn Chính Phủ: https://baochinhphu.vn/dau-an-hon-nua-the-ky-quan-he-hop-tac-viet-nam-nhat-ban-102261106135945961.htm