Dấu ấn những năm Bính Ngọ vẻ vang trong lịch sử dân tộc Việt Nam
Dấu ấn những năm Bính Ngọ vẻ vang trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Linh vật ngựa được trang trí trên đường phố của phường Tô Hiệu. Ảnh: Hà Hòa
Năm Bính Ngọ (766): Khởi nghĩa Phùng Hưng
Năm 766, Phùng Hưng, người quận Đường Lâm (nay thuộc Sơn Tây, Hà Nội) do căm ghét chính sách thống trị của quan lại nhà Đường, và nhân lòng căm phẫn của nhân dân, Phùng Hưng đã phát động một cuộc khởi nghĩa lớn chống chính quyền đô hộ nhà Đường. Phùng Hưng đem quân vây đánh thành Tống Bình (Hà Nội). Do quân lính chết nhiều, Cao Chính Bình (viên quan nhà Đường đô hộ nước ta) phải vào cố thủ trong thành, lo sợ phát ốm rồi chết. Phùng Hưng chiếm lĩnh thành trì và coi việc chính sự đất nước. Khi mất (năm 791), Phùng Hưng được nhân dân lập đền thờ và tôn là Bố Cái Đại Vương để ghi nhớ công lao đánh giặc cứu dân.
Năm Bính Ngọ (1426): Chiến thắng Tốt Động - Chúc Động
Nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đại thắng quân Minh ở Tốt Động-Chúc Động (thuộc huyện Chương Mỹ, Hà Nội). Trận đánh bắt đầu diễn ra từ sáng ngày 7/11/1426. Cánh quân chính của nhà Minh do Vương Thông chỉ huy hành quân theo đội hình kéo dài. Khi tiền quân của chúng tới Tốt Động thì hậu quân mới vượt khỏi sông Ninh Giang (tức lọt vào trận địa mai phục của ta ở Chúc Động). Khi tiền quân của địch đã lọt vào trận địa mai phục ở Tốt Động và hậu quân đã qua hết sông Ninh Giang, quân mai phục của ta mới nhất tề xông ra đánh. Quân Minh bị chặn đứng rồi tháo chạy. Sau đó, chúng lại lọt vào trận địa của ta ở Chúc Động. Cầu Ninh Kiều bị quân ta phá hủy, và dòng sông biến thành chiến tuyến cản đường rút chạy của địch về Đông Quan. Hàng vạn quân Minh bị giết và bị bắt. Bọn sống sót liều lĩnh vượt qua Ninh Giang bị chết đuối nhiều đến nỗi “… nước Ninh Kiều vì thế mà tắc nghẽn” (Đại Việt Sử ký toàn thư).
Trong trận đánh này, hơn 5 vạn quân Minh bị tiêu diệt, 1 vạn bị bắt sống. Thắng lợi đã tạo tiền đề cho cuộc chiến tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân ta lên giai đoạn phát triển mới.
Năm Bính Ngọ (1786): Chấm dứt thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh
Sau khi đánh tan 5 vạn quân Xiêm và đuổi Nguyễn Ánh khỏi đất Gia Định, Nguyễn Huệ được Nguyễn Nhạc giao nhiệm vụ chỉ huy quân Tây Sơn tiến đánh quân Trịnh ở Phú Xuân (Huế). Sau thắng lợi ở Phú Xuân, Nguyễn Huệ tiến quân ra Đàng ngoài. Quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ đã đánh bại các đạo quân họ Trịnh rồi thẳng tiến ra Thăng Long. Chúa Trịnh (bấy giờ là Trịnh Khải) thua trận, trốn chạy rồi bị bắt. Ngày 21/7/1786, Nguyễn Huệ kéo quân vào Thăng Long, lật đổ chính quyền họ Trịnh, và từ đây, đất nước ta chấm dứt thời kỳ Trịnh-Nguyễn
Năm Bính Ngọ, niên hiệu Thiệu Trị thứ 6 (1846): Thiên tai gây tổn thất nặng nề cho hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh
Có một trận bão xảy ra vào tháng 5 nhuận vào niên hiệu Thiệu Trị thứ 6 (1846) Các tỉnh bị thiệt hại nặng nhất vẫn là Nghệ An và Hà Tĩnh. Nghệ An có 22.980 ngôi nhà bị sụp đổ, 296 thuyền bị đắm, 722 đình chùa, đền miếu bị hư hại nặng nề, 120 người bị chết. Hà Tĩnh có 1.913 ngôi nhà sụp đổ, 38 đền chùa bị tan hoang, 9 chiếc thuyền của dân bị đắm, 34 người chết. Vua Thiệu Trị cũng sai ngay các quan Khoa đạo là Nguyễn Hữu Thành, Đặng Minh Trân khẩn trương phối hợp với các quan ở tỉnh xuất tiền, gạo cứu trợ cho dân. Ở Nghệ An chi ra 32.282 quan tiền, Hà Tĩnh chi ra 2.117 quan tiền, 32 phương gạo (Đại Nam thực lục, đệ tam kỷ, quyển LVIII, theo bản của Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007).
Năm Bính Ngọ (1906): Những hoạt động của Phan Châu Trinh về cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Cuộc vận động dân chủ ở Việt Nam gắn với công cuộc Duy Tân được hình thành từ những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, sau nhiều cuộc khởi nghĩa chống Pháp và triều đình phong kiến tay sai thất bại. Những tư tưởng tiến bộ mà Phan Châu Trinh đề ra lúc bấy giờ là: “đề xướng dân quyền, dân đã biết có quyền thì mọi việc khác đều có thể mưu tính được”. Những tư tưởng đó của cuộc Duy Tân nêu lại trong ba nội dung: khai dân trí - chấn dân khí - hậu dân sinh. Từ những tư tưởng dân chủ mà Phan Châu Trinh và thế hệ những chiến sĩ Duy Tân ở đầu thế kỷ XX đã có ảnh hưởng to lớn trong bước đường hình thành đường lối chính trị của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, mà rõ nét là “Bản yêu sách 8 điểm của nhân dân An Nam” đã gửi đến Hội nghị Véc-xây Pháp (1919).
Năm Bính Ngọ (1966): Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi quân và dân cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược và phong trào "Năm xung phong".
Ðế quốc Mỹ leo thang ném bom tàn phá miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Quân dân hai miền Nam – Bắc lập nhiều chiến công lớn, đánh thắng bước đầu chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ. Ngày 17 tháng 7 năm 1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi quân và dân cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược: “Chiến tranh có thể kéo dài... Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”. Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, là lời hịch cứu nước của dân tộc, của truyền thống quật cường mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, đã động viên mạnh mẽ quân và dân ta đoàn kết một lòng, vượt qua hy sinh thử thách, kiên quyết chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.
Cùng với phong trào “Ba sẵn sàng” của thanh niên miền Bắc, phong trào “Năm xung phong” của thanh niên miền Nam đã tạo nên sức mạnh to lớn, động viên và hiệu triệu thanh niên miền Nam vượt qua khó khăn, gian khổ; đánh bại âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai; quyết tâm thực hiện giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tháng 6/1966, Ban Thường vụ Trung ương Đoàn Thanh niên Nhân dân cách mạng và Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng chủ trương đẩy mạnh phong trào “Năm xung phong” lên một bước mới với khí thế “Phất cao cờ Năm xung phong, thanh niên thành đồng thừa thắng xông lên đánh bại hoàn toàn Mỹ - ngụy”.=











