Đầu tư sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị
Thay vì canh tác nhỏ lẻ, manh mún như trước đây, nông nghiệp Việt Nam đang từng bước chuyển mình mạnh mẽ thông qua việc bắt tay với các doanh nghiệp đầu tàu để hình thành những vùng nguyên liệu quy mô lớn, gắn kết chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và nông dân.

Sự liên kết giữa các hộ dân với hợp tác xã, doanh nghiệp không những giúp bà con yên tâm sản xuất mà còn nâng cao thu nhập, ổn định đời sống
Đổi mới tư duy, hợp sức làm giàu
Công ty cổ phần (CTCP) Thế giới Hạt Dưỡng Hanuti là một trong những doanh nghiệp đang tập trung phát triển vùng nguyên liệu tại các khu vực có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở tỉnh Cao Bằng. Hướng đi này vừa khai thác được lợi thế nông nghiệp địa phương, vừa góp phần tạo sinh kế bền vững cho người dân trên chính đồng đất quê hương.
Giám đốc CTCP Thế giới Hạt Dưỡng Hanuti Lại Ngọc Thanh cho biết, doanh nghiệp đã xây dựng các vùng liên kết sản xuất với những loại hạt chủ lực như đậu tương, lạc, đậu đỏ…; đồng thời ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm dài hạn với người dân ổn định, giúp bà con yên tâm sản xuất, từng bước thay đổi tư duy canh tác theo hướng hàng hóa.
Đáng chú ý, Hanuti đã phối hợp cùng người dân chuyển đổi sang phương thức canh tác hữu cơ, đáp ứng xu hướng tiêu dùng an toàn và bền vững. Hiện doanh nghiệp thu mua sản phẩm với mức giá cao hơn thị trường từ 10-20%. Nhờ đó, thu nhập của các hộ tham gia liên kết tăng từ 40-50% so với phương thức canh tác truyền thống. Sự liên kết giữa các hộ dân với hợp tác xã, doanh nghiệp không những giúp bà con yên tâm sản xuất, mà còn nâng cao thu nhập, ổn định đời sống.
Bà Lưu Thị Tần, xã Lũng Nặm, tỉnh Cao Bằng chia sẻ rằng, điều khiến bà và nhiều hộ dân trong vùng yên tâm nhất là từ khi có doanh nghiệp đứng ra liên kết và bao tiêu sản phẩm, người nông dân không còn cảnh sản xuất trong tâm thế “được mùa mất giá”. Việc thu mua ổn định, giá cao hơn thị trường giúp bà con mạnh dạn đầu tư chăm sóc cây trồng, gắn bó hơn với ruộng đồng. Nhờ đó, gia đình bà có thêm thu nhập ổn định, đời sống cũng đỡ vất vả hơn. Riêng vụ lạc gần đây, thu nhập của gia đình bà đạt khoảng 50 triệu đồng, tăng thêm từ 10 đến 15 triệu đồng so với trước. Mức thu nhập này tuy chưa lớn nhưng đủ để trang trải sinh hoạt, đầu tư thêm cho sản xuất và chăm lo cho con cái học hành, tạo động lực để người dân yên tâm làm giàu trên chính mảnh đất quê hương. Mô hình liên kết này đã được mở rộng cả số lượng và chất lượng.
Theo ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), đến thời điểm này, cả nước đã hình thành hơn 3.500 mô hình liên kết chuỗi giá trị, với khoảng 300.000 hộ nông dân tham gia thông qua gần 2.000 hợp tác xã và tổ hợp tác. Đặc biệt, sau 6 năm triển khai Nghị định số 98/2018/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Tổng vốn đầu tư huy động cho các mô hình liên kết đạt trên 20.000 tỷ đồng; trong đó doanh nghiệp đối ứng 50-60%, thể hiện rõ xu hướng chia sẻ rủi ro giữa các chủ thể trong sản xuất nông nghiệp hiện đại. Các dự án liên kết tập trung chủ yếu trong lĩnh vực trồng trọt chiếm 67%; chăn nuôi chiếm 24%; lâm nghiệp chiếm 6%. Hợp tác xã là chủ thể chính của 79% dự án, đóng vai trò “xương sống” của chuỗi liên kết. Khi tham gia chuỗi, khoảng 60% hợp tác xã mở rộng sản xuất, tăng năng lực quản trị và cải thiện thu nhập thành viên.
Để liên kết chuỗi phát huy hiệu quả, Chính phủ đã có những giải pháp hỗ trợ địa phương trong quản lý vùng nguyên liệu, áp dụng kỹ thuật chuẩn hóa, tiếp cận thị trường và xây dựng thương hiệu. Cùng với đó, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nhất là các lĩnh vực giá trị gia tăng cao thông qua ưu đãi tín dụng, thuế, đất đai và cơ chế bao tiêu sản phẩm; Tạo cơ chế kết nối doanh nghiệp - hợp tác xã - nông dân, giúp các bên chia sẻ rủi ro, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Đồng thời, xây dựng đề án hỗ trợ đào tạo, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực quản trị cho cả người sản xuất, doanh nghiệp.
Tạo sự gắn kết vào lợi ích lâu dài Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng nhấn mạnh, liên kết chuỗi giá trị là chìa khóa thể chế cho nền nông nghiệp hiện đại, thích ứng biến đổi khí hậu và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây không chỉ là chỉ đạo, mà còn là định hướng chiến lược cho tương lai ngành nông nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên vẫn còn các tồn tại chính là liên kết chưa bền vững; nhiều nơi mới dừng ở ký hợp đồng tiêu thụ; chưa khép kín toàn chuỗi từ sản xuất - chế biến - thị trường. Thủ tục hỗ trợ xây dựng liên kết còn phức tạp, khiến doanh nghiệp và hợp tác xã nhỏ khó tiếp cận chính sách. Liên kết số, liên kết xanh, truy xuất nguồn gốc chưa được quan tâm đúng mức; Năng lực của nhiều hợp tác xã còn yếu, chưa đủ sức trở thành trung tâm của liên kết.
Để khắc phục các hạn chế trên, bà Nguyễn Thị Kim Thanh, Chủ tịch Hiệp hội Dừa Việt Nam gợi mở, cần sự phối hợp chặt chẽ của “4 nhà”. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò hoạch định chính sách, ban hành tiêu chuẩn và hỗ trợ tín dụng; nhà khoa học nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và phát triển giống dừa thích ứng sinh thái; Các Hiệp hội làm cầu nối phản biện chính sách, thúc đẩy thương hiệu; Doanh nghiệp và hợp tác xã trực tiếp tổ chức vùng nguyên liệu, chế biến sâu, truy xuất nguồn gốc và tạo sinh kế bền vững cho người nông dân.
Bên cạnh đó, trong bối cảnh nông nghiệp Việt Nam chịu nhiều tác động từ biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường nước ngoài, việc phát triển ngành theo hướng an toàn, xanh và bền vững là xu thế tất yếu. Người tiêu dùng hiện nay đang ưu tiên các sản phẩm “xanh - sạch - truy xuất được nguồn gốc”, đòi hỏi quá trình canh tác và bảo vệ thực vật phải thân thiện với môi trường, bảo đảm sức khỏe cộng đồng và cân bằng hệ sinh thái.
Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/dau-tu-san-xuat-nong-nghiep-theo-chuoi-gia-tri-177158.html












