Đẩy mạnh kinh tế cửa khẩu, kết nối đồng bằng với khu vực ASEAN: Kỳ 2: Cửa khẩu phát triển phải tạo giá trị cho người dân và vùng biên
Việc nâng cấp cửa khẩu (CK) chính Khánh Bình thành Cửa khẩu quốc tế (CKQT) đường bộ không chỉ thêm tuyến giao thương giữa An Giang với Campuchia, mà còn mở ra không gian phát triển mới cho vùng biên. Khi hàng hóa, doanh nghiệp (DN), dịch vụ (DV), du khách và người dân qua lại ngày càng nhiều, yêu cầu đặt ra là làm sao để sự phát triển ấy tạo thêm việc làm, cơ hội kinh doanh, thị trường cho nông sản và những thay đổi cụ thể trong đời sống người dân.
Nâng cấp cửa khẩu, mở rộng không gian phát triển
Bài toán đặt ra với Khánh Bình không chỉ là tăng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK) mà còn phải hình thành hệ sinh thái thương mại, DV, logistics đủ sức giữ lại nhiều hơn giá trị trên địa bàn.
Chủ tịch UBND tỉnh An Giang - Hồ Văn Mừng xác định tư duy phát triển kinh tế CK phải được mở rộng. Theo ông, CK không chỉ là nơi hàng hóa đi qua mà phải trở thành nơi tạo ra giá trị cho hàng hóa. Muốn vậy, An Giang phải kết nối CK với các vùng sản xuất (SX), khu, cụm công nghiệp, DN logistics và hệ thống phân phối của toàn vùng ĐBSCL, tổ chức hàng hóa thành chuỗi từ SX, chế biến, vận chuyển, thông quan đến phân phối.
Tư duy này đặt Khánh Bình trong không gian kinh tế rộng hơn phạm vi khu vực biên giới. Một lô hàng nông sản có thể bắt đầu từ vùng nguyên liệu, qua cơ sở thu mua, chế biến, kho bảo quản, DN vận tải, CK rồi đến thị trường Campuchia. Các "mắt xích" càng được kết nối tốt, giá trị hàng hóa càng được nâng lên và như thế thêm nhiều chủ thể có thể tham gia.

Đoàn công tác do Thiếu tướng Trần Ngọc Hữu - Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng - làm Trưởng đoàn đến khảo sát cơ sở vật chất và các công trình phục vụ quản lý, bảo vệ biên giới tại Khánh Bình
Tại Khánh Bình, nền tảng cho quá trình này đã được hình thành bước đầu. Khu vực CK hiện có 7 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 470 tỷ đồng. Tỉnh cũng định hướng hình thành trung tâm logistics CK Khánh Bình, kết nối với QL91, sông Bình Di và các tuyến giao thông mới, từng bước tạo chuỗi DV phục vụ hàng hóa XNK.
Khi CK được nâng cấp, nhu cầu về vận tải, kho bãi, bảo quản, đóng gói, sửa chữa phương tiện, ăn uống, lưu trú cùng các DV hỗ trợ thương mại cũng sẽ tăng theo. Đây là khoảng không để DN địa phương và người dân tham gia vào chuỗi giá trị mới, thay vì chỉ đứng bên ngoài dòng chảy hàng hóa.
Bà Trần Thị Cẩm Nhung - doanh nhân có hoạt động giao thương với Campuchia - cho rằng khi CK được nâng cấp, điều DN quan tâm là thủ tục thuận lợi, thời gian thông quan rút ngắn và các DV hỗ trợ giao thương phát triển đồng bộ. Khi những điều kiện đó được bảo đảm, DN sẽ có thêm cơ sở mở rộng hoạt động, kéo theo nhu cầu về vận tải, kho bãi và nhiều DV khác. Từ góc nhìn DN cho thấy nâng cấp CK chỉ là bước đầu. Điều quyết định sức hút của một tuyến giao thương còn nằm ở khả năng vận hành phía sau, từ giao thông, logistics đến các DV hỗ trợ. Chi phí giảm, thời gian lưu thông ngắn hơn, DV thuận tiện hơn sẽ tạo thêm động lực để DN mở rộng giao thương.
Tỉnh An Giang đặt mục tiêu tổng giá trị hàng hóa XNK qua cặp CK Khánh Bình, Chrey Thom đạt khoảng 1,2 tỷ USD vào năm 2030. Đây là quy mô dòng hàng lớn, đòi hỏi hệ thống DV đi kèm phải được chuẩn bị tương xứng. Điều đó cũng đặt ra yêu cầu không chỉ mở rộng năng lực thông quan mà phải tổ chức tốt không gian kinh tế phía sau CK. Nói cách khác, CK không chỉ cần một con đường dẫn đến biên giới mà cần cả không gian kinh tế phía sau. Khi dòng xe tăng lên, các DV phục vụ dòng hàng cũng phải phát triển tương ứng. Từ nhu cầu của DN có thể hình thành thêm cơ sở kinh doanh, việc làm và nguồn thu nhập mới cho cư dân vùng biên.
Để người dân cùng hưởng lợi
Một CK có thể tạo ra những dòng xe nối dài, nhiều chuyến hàng lớn hơn và con số tăng trưởng ấn tượng. Nhưng phía sau những dòng chảy ấy, điều quan trọng hơn là giá trị có đến được với người dân vùng biên và các vùng SX hay không. Khi CK mở rộng không gian giao thương, người dân phải có thêm cơ hội việc làm, kinh doanh, đưa nông sản ra thị trường và nâng cao thu nhập.

Lực lượng chức năng kiểm tra phương tiện, hàng hóa đi qua cửa khẩu
Đó cũng là thước đo quan trọng của kinh tế CK, bởi quy mô hàng hóa, số lượng phương tiện hay tổng vốn đầu tư chỉ phản ánh một phần sức phát triển của thị trường. Giá trị của một không gian kinh tế mới còn được nhìn từ những thay đổi cụ thể trong đời sống, khi người dân có thể tham gia và hưởng lợi từ chính dòng chảy đang đi qua quê hương mình.
Một trong những điều kiện để đạt mục tiêu ấy là kết nối khu vực biên giới với vùng SX rộng lớn phía sau. An Giang và ĐBSCL có thế mạnh về lúa gạo, thủy sản, trái cây, nông sản chế biến cùng nhiều mặt hàng tiêu dùng. Khi Khánh Bình được nâng cấp thành CKQT, những sản phẩm này có thêm hướng tiếp cận thị trường Campuchia và rộng hơn là các tuyến thương mại trong khu vực.
Đối với nông dân, ý nghĩa của CK không nằm ở con số hàng hóa đi qua mà ở khả năng sản phẩm tiếp cận thị trường thuận lợi hơn. Ông Lê Văn Tấn - một nông dân ở Cần Thơ - cho rằng, điều người SX quan tâm không chỉ là có thêm thị trường mà còn là khả năng tiêu thụ ổn định và giá trị sản phẩm được nâng lên. Nếu hàng nông sản được tổ chức tốt từ SX, thu hoạch, đóng gói đến vận chuyển thì người nông dân sẽ có thêm cơ hội nâng chất lượng sản phẩm và mở rộng đầu ra. Từ đây hình thành mối quan hệ 2 chiều giữa CK và vùng SX: Cửa khẩu cần hàng hóa đủ lớn, đủ chất lượng để duy trì dòng chảy thương mại; trong khi vùng SX lại cần CK và hệ thống logistics để mở rộng thị trường, giảm chi phí đồng thời nâng sức cạnh tranh.
Khi hai không gian này được nối với nhau, lợi ích không dừng ở doanh nghiệp XNK mà mở rộng sang người SX, cơ sở chế biến, đơn vị vận tải, thương mại, DV, người lao động (LĐ). Một đơn hàng xuất khẩu (XK) không chỉ tạo doanh thu cho DN mà còn kéo theo nhu cầu nguyên liệu, LĐ, vận chuyển, đóng gói, kho bãi. Kinh tế CK vì thế không còn là câu chuyện riêng của địa bàn biên giới mà trở thành một bộ phận của không gian kinh tế rộng lớn hơn. Người nông dân ở vùng SX, DN chế biến, đơn vị vận tải, cơ sở logistics và hộ kinh doanh tại khu vực CK đều có thể tham gia vào cùng một dòng chảy.
Đối với người dân Khánh Bình, kỳ vọng ấy còn cụ thể hơn. Ông Trần Văn Tuấn - người dân địa phương - cho rằng, bà con mong CK phát triển sẽ kéo thêm nhiều hoạt động buôn bán, DV và việc làm tại chỗ. Điều người dân mong muốn là sự đổi thay phải hiện hữu trong đời sống hàng ngày, từ cơ hội việc làm đến điều kiện kinh doanh và các DV phục vụ người dân.
Đây là vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu. Người dân địa phương không nên chỉ đứng bên ngoài quan sát dòng xe hàng qua lại mà cần có khả năng tham gia vào những hoạt động kinh tế được tạo ra từ dòng hàng ấy. Hộ dân có thể cung cấp DV ăn uống, lưu trú, sửa chữa phương tiện; cơ sở kinh doanh có thể tham gia vận tải, kho bãi, cung ứng hàng hóa; người LĐ có thêm cơ hội việc làm về thương mại, logistics và DV.
Theo đánh giá của tỉnh, kinh tế biên mậu phát triển được kỳ vọng tạo thêm hàng ngàn việc làm trong các lĩnh vực DV, thương mại, logistics, góp phần chuyển dịch cơ cấu LĐ và nâng cao thu nhập cho cư dân vùng biên. Đây là tác động xã hội quan trọng của việc nâng cấp CK, bởi 1 công trình giao thương chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo thêm cơ hội để người dân tham gia vào quá trình phát triển.
Không gian ấy còn có thể mở rộng sang du lịch (DL). Việc công dân và phương tiện của nước thứ 3 được qua lại theo quy định sẽ tạo điều kiện hình thành các tour, tuyến DL quốc tế liên hoàn, kết nối An Giang, các tỉnh ĐBSCL với Phnom Penh và các nước trong khu vực. Khi đó, lợi ích từ CK có thể mở rộng sang lưu trú, ẩm thực, vận tải, thương mại và nhiều DV phục vụ du khách. Điều quan trọng là người dân vùng biên không chỉ là đối tượng thụ hưởng các công trình được đầu tư mà cần trở thành chủ thể tham gia vào quá trình phát triển. Những hộ kinh doanh nhỏ, cơ sở DV, người LĐ và DN địa phương cần có điều kiện tiếp cận cơ hội mới do CKQT mang lại, từ đó trở thành lực lượng cùng tham gia giữ gìn an ninh, trật tự và chủ quyền biên giới. Đây là điểm gặp nhau giữa phát triển kinh tế và xây dựng thế trận biên phòng toàn dân, tạo nền tảng để vùng biên phát triển ổn định, lâu dài.
Từ mục tiêu khoảng 1,2 tỷ USD kim ngạch XNK vào năm 2030 đến kỳ vọng tạo thêm hàng ngàn việc làm, những con số ấy chỉ trở thành giá trị thực khi dòng chảy qua CK tạo được sự lan tỏa trong đời sống. Vấn đề là khi cánh cửa càng mở rộng, dòng người và hàng hóa càng lớn thì yêu cầu quản lý càng cao. Một CKQT không chỉ cần thuận lợi cho giao thương mà còn phải hiện đại, an toàn, kiểm soát tốt mọi hoạt động qua lại biên giới.
Đó là bài toán tiếp theo của Khánh Bình. Nâng cấp để phát triển là một yêu cầu, nhưng giữ cho cánh cửa ấy luôn thông thoáng, an toàn và vận hành bằng phương thức quản lý hiện đại mới là điều quyết định khả năng phát triển lâu dài.
Ông Tạ Văn Khương - Chủ tịch UBND xã Khánh Bình - cho rằng, khi cửa khẩu được nâng cấp, địa phương đứng trước cơ hội lớn để phát triển các loại hình thương mại, dịch vụ gắn với hoạt động giao thương. Điều quan trọng là phải chuẩn bị tốt hạ tầng dân sinh, tạo môi trường thuận lợi để người dân tham gia kinh doanh đồng thời giữ gìn trật tự, cảnh quan và an ninh khu vực biên giới. Khi giao thương tăng lên, dân cư, người lao động, phương tiện và dịch vụ cùng biến động. Quy hoạch tốt sẽ giúp sự phát triển tạo động lực nâng chất lượng đời sống thay vì tạo thêm áp lực cho khu vực biên giới. Khi người dân có điều kiện làm ăn, có việc làm và nhận lợi ích thiết thực từ kinh tế cửa khẩu, họ sẽ trở thành một phần của quá trình phát triển vùng biên.


