Nguồn tiết kiệm 'vô hình' và chuyện đầu tư sinh lời của doanh nghiệp

Theo PGS.TS Đặng Trần Thọ, Viện trưởng Viện Công nghệ Năng lượng, ĐH Bách Khoa Hà Nội, cùng với áp lực tăng trưởng kinh tế, làn sóng công nghệ mới cùng các rào cản xanh từ thị trường quốc tế, an ninh năng lượng không còn là câu chuyện riêng của ngành điện mà đã trở thành bài toán sống còn của cả nền kinh tế.

Báo Tiền Phong đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Đặng Trần Thọ, Viện trưởng Viện Công nghệ Năng lượng, ĐH Bách khoa Hà Nội xung quanh việc gỡ các nút thắt kĩ thuật, tài chính và cơ chế vận hành nhằm thúc đẩy doanh nghiệp hành động.

Thưa ông, an ninh năng lượng đang được nhắc đến như một “điểm nghẽn” tiềm ẩn đối với mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam. Ông nhìn nhận thế nào về những áp lực lớn nhất mà chúng ta đang đối mặt hiện nay?

An ninh năng lượng của Việt Nam đang chịu sức ép đồng thời từ ba hướng, khiến đây không còn đơn thuần là vấn đề kĩ thuật của ngành điện mà đã trở thành điều kiện tiên quyết cho tăng trưởng kinh tế.

Thứ nhất, nhu cầu tiêu thụ điện năng tăng nhanh chưa từng thấy. Mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số, cộng hưởng với làn sóng 5G, 6G, trí tuệ nhân tạo và các trung tâm dữ liệu đòi hỏi nguồn điện năng phải tăng trưởng khoảng 10,3%/năm đến năm 2030. Nếu hạ tầng nguồn và lưới không bắt kịp, năng lượng sẽ lập tức trở thành lực cản kìm hãm toàn bộ nền kinh tế.

Thứ hai, nguồn cung ngày càng phụ thuộc vào nhập khẩu. Tỉ lệ than nhập khẩu để phát điện đã tăng từ 0% năm 2010 lên trên 35% năm 2022. Bên cạnh đó, khí hóa lỏng (LNG) nhập khẩu cũng là cấu phần quan trọng trong cơ cấu điện nền. Sự phụ thuộc này đặt chúng ta trước rủi ro biến động giá và gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt nguy hiểm với nền kinh tế mở và định hướng xuất khẩu như Việt Nam.

Thứ ba, cái giá của việc để mất an ninh năng lượng là hữu hình. Điện thiếu hoặc chập chờn sẽ đẩy các nhà đầu tư công nghệ cao – nhóm đòi hỏi độ tin cậy cung cấp điện gần như tuyệt đối – sang các quốc gia khác. Ngược lại, mỗi kWh điện tiết kiệm được chính là một "nguồn điện vô hình". Chi phí để tiết kiệm một kWh chỉ bằng 30–50% chi phí đầu tư phát triển nguồn mới tương đương.

PGS.TS Đặng Trần Thọ, Viện trưởng Viện Công nghệ Năng lượng, ĐH Bách Khoa Hà Nội

PGS.TS Đặng Trần Thọ, Viện trưởng Viện Công nghệ Năng lượng, ĐH Bách Khoa Hà Nội

Tiềm năng tiết kiệm lớn như vậy, nhưng vì sao khâu thực thi ở cấp doanh nghiệp – nơi trực tiếp phát sinh tiêu thụ – vẫn còn nhiều rào cản, thưa ông?

Qua thực tế kĩ thuật và kiểm toán năng lượng, chúng tôi nhận thấy các doanh nghiệp Việt Nam đang vướng vào một vòng luẩn quẩn xuất phát từ 4 hạn chế phổ biến.

Đầu tiên, thiếu hệ thống đo lường và giám sát bài bản dẫn đến không có dữ liệu chi tiết, khiến các quyết định đầu tư tiết kiệm năng lượng thiếu căn cứ định lượng xác đáng. Thứ hai, việc duy trì thiết bị, công nghệ hiệu suất thấp do tâm lí chuộng chi phí đầu tư ban đầu rẻ hơn hiệu quả vận hành lâu dài. Thứ ba, thiếu đội ngũ quản lí năng lượng chuyên trách, phần lớn giao kiêm nhiệm cho cán bộ kĩ thuật hoặc an toàn.

Cuối cùng, công tác kiểm toán năng lượng vẫn mang nặng tính đối phó. Cả nước có hơn 3.000 cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm bắt buộc phải kiểm toán định kì, nhưng nhiều nơi làm chỉ để hoàn tất thủ tục hành chính. Chưa kể các khuyến nghị sau kiểm toán bị bỏ ngăn kéo do thiếu cơ chế giám sát thực thi. Gốc rễ của 4 vấn đề trên chính là rào cản nhận thức. Doanh nghiệp vẫn coi tiết kiệm năng lượng là chi phí phát sinh chứ chưa xem đây là một khoản đầu tư sinh lời. Khi chưa thấy được con số sinh lời bằng dữ liệu đo đếm cụ thể, họ lại càng ngại bỏ vốn.

Nếu không chủ động thay đổi, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với những tổn thất và rủi ro cạnh tranh cụ thể nào?

Đó sẽ là rủi ro kép, đánh trực diện vào túi tiền và khả năng tồn tại của doanh nghiệp.

Về chi phí, tiềm năng tiết kiệm năng lượng trong các ngành công nghiệp sản xuất như xi măng, thép, sành sứ, chế biến tiêu dùng được Bộ Công Thương đánh giá lên tới trên 20%. Không cải thiện hiệu suất đồng nghĩa với việc doanh nghiệp chấp nhận chi trả chi phí năng lượng cao hơn cần thiết tới 1/5 mỗi năm. Khoản lãng phí này bào mòn trực tiếp biên lợi nhuận, nhất là khi giá điện đang theo lộ trình thị trường hóa.

Về năng lực cạnh tranh, rủi ro còn khốc liệt hơn khi Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU hay các tiêu chuẩn ESG quốc tế buộc doanh nghiệp phải minh bạch phát thải trong toàn chuỗi cung ứng. Nếu không cải thiện hiệu suất năng lượng, hàng hóa của chúng ta sẽ mất lợi thế và để mất đơn hàng vào tay các đối thủ trong khu vực.

Nhân viên điện lực lắp đặt điện mặt trời mái nhà cho người dân

Nhân viên điện lực lắp đặt điện mặt trời mái nhà cho người dân

Vậy lộ trình quản trị năng lượng nào là khả thi và ít rủi ro nhất cho các doanh nghiệp, thưa ông?

Doanh nghiệp không nên và không cần bắt đầu ngay bằng những khoản đầu tư máy móc khổng lồ. Lộ trình hiệu quả nhất nên chia làm 3 bước rõ rệt:

Bước một là các giải pháp không hoặc rất ít tốn vốn, chiếm dưới 5% chi phí năng lượng hàng năm. Trọng tâm là chuẩn hóa quy trình vận hành: tắt thiết bị ngoài giờ, khắc phục các điểm rò rỉ khí nén hay hơi nóng, điều chỉnh nhiệt độ điều hòa hợp lí. Nhóm này có thể làm ngay bằng nguồn lực nội bộ.

Bước hai là các giải pháp đầu tư mức vốn trung bình, thời gian hoàn vốn dưới 3 năm như lắp biến tần cho hệ thống động cơ, bơm, quạt; chuyển đổi sang đèn LED và lắp đặt hệ thống đo đếm năng lượng theo từng phân xưởng để có dữ liệu chính xác.

Bước ba mới là đầu tư vốn lớn cho các hệ thống công nghệ cao như thu hồi nhiệt thải, cải tạo lò hơi, lò nung hoặc thay thế dây chuyền. Ở giai đoạn này, doanh nghiệp nên liên kết với các công ty dịch vụ năng lượng (ESCO) hoặc tiếp cận các gói tín dụng xanh để chia sẻ rủi ro tài chính và kĩ thuật.

Nói về vốn, số liệu cho thấy, dư nợ tín dụng xanh tăng trưởng rất cao, nhưng nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ phản ánh họ vẫn “đói vốn” khi muốn đổi mới công nghệ. Vì sao lại có nghịch lí này?

Đúng là có một nghịch lí: vốn xanh cấp vĩ mô không hề thiếu, nhưng dòng vốn lại khó chảy vào các dự án cụ thể. Nguyên nhân chính là Việt Nam đang thiếu một bộ chuẩn mực đo lường, báo cáo và kiểm chứng (M&V) độc lập về hiệu quả tiết kiệm năng lượng.

Không có thước đo chuẩn mực, ngân hàng không đủ căn cứ kĩ thuật để định lượng mức độ an toàn tài chính của phương án vay. Thủ tục tín dụng xanh lại quá phức tạp, đòi hỏi nhiều hồ sơ phương án mà doanh nghiệp nhỏ không đủ năng lực chuẩn bị. Về phía ngân hàng, họ cũng thiếu cán bộ thẩm định chuyên sâu về hiệu quả năng lượng, dẫn đến tâm lí e ngại rủi ro và phê duyệt thận trọng quá mức cần thiết.

Hệ thống điện mặt trời tại AEON Mall Tân Phú “đạt chuẩn Nhật Bản”

Hệ thống điện mặt trời tại AEON Mall Tân Phú “đạt chuẩn Nhật Bản”

Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả sửa đổi (Luật số 77/2025/QH15) đã chính thức bổ sung Quỹ Thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Ông kỳ vọng gì vào cơ chế này và chúng ta có thể học hỏi bài học nào từ quốc tế?

Việc luật hóa Quỹ Thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả theo hướng xã hội hóa, cùng với khung pháp lí cho mô hình ESCO là bước tiến thể chế mang tính đột phá. Tuy nhiên, luật mới chỉ dừng ở nguyên tắc khung, linh hồn của chính sách nằm ở các văn bản hướng dẫn cơ chế vận hành.

Kinh nghiệm rất đáng để Việt Nam tham chiếu là Quỹ Bảo tồn Năng lượng (ENCON Fund) của Thái Lan. Họ vận hành theo mô hình quỹ quay vòng: Nhà nước cấp vốn cho các ngân hàng thương mại với lãi suất 0%, đổi lại các ngân hàng cam kết cho doanh nghiệp vay với mức lãi suất trần ưu đãi tối đa 4%/năm. Đặc biệt, Thái Lan tổ chức dịch vụ hỗ trợ kĩ thuật theo cơ chế "một cửa" cho cả ngân hàng lẫn bên vay, giúp giảm gánh nặng thẩm định và rút ngắn thời gian giải ngân. Đây là mô hình kiểm chứng thành công suốt hơn hai thập kỉ qua mà chúng ta hoàn toàn có thể áp dụng.

Để hiện thực hóa mục tiêu an ninh năng lượng quốc gia, ông có khuyến nghị then chốt nào gửi tới cơ quan quản lí và cộng đồng doanh nghiệp?

Cần phải thực thi đồng thời ba mũi giáp công giữa cơ quan quản lí và doanh nghiệp.

Thứ nhất, phải thiết lập nền tảng dữ liệu chuẩn xác. Cơ quan nhà nước cần sớm ban hành bộ tiêu chuẩn kĩ thuật đo lường, kiểm chứng (M&V) dùng chung toàn quốc; doanh nghiệp phải chủ động lắp hệ thống đo đếm và chỉ định cán bộ quản lí năng lượng được đào tạo bài bản.

Thứ hai, phải khơi thông cơ chế tài chính thực chất bằng cách thiết kế cơ chế quay vòng vốn qua hệ thống ngân hàng, kèm cơ chế bảo lãnh tín dụng hoặc tài trợ theo kết quả tiết kiệm thực tế.

Thứ ba, phải chuyển hóa kiểm toán năng lượng từ hình thức đối phó sang hành động cụ thể thông qua việc bổ sung chế tài giám sát hậu kiểm toán và xây dựng kế hoạch cắt giảm năng lượng theo từng năm.

An ninh năng lượng bắt đầu từ từng kWh điện tiết kiệm tại nhà xưởng. Tiết kiệm năng lượng không phải gánh nặng chi phí tuân thủ, mà là chiến lược cốt lõi để nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm sự phát triển bền vững của doanh nghiệp cũng như quốc gia.

Xin cảm ơn ông!

Nghiêm Huê

Nguồn Tiền Phong: https://tienphong.vn/nguon-tiet-kiem-vo-hinh-va-chuyen-dau-tu-sinh-loi-cua-doanh-nghiep-post1885492.tpo