Đẩy mạnh phát triển công nghệ sinh học - Kỳ 3: Biến chất thải thành tài nguyên
Từ đồng ruộng, trang trại đến nhà máy, nhiều mô hình đang từng bước biến nguồn chất thải thành nguyên liệu phục vụ sản xuất, góp phần giảm chi phí, bảo vệ môi trường và mở ra hướng phát triển kinh tế tuần hoàn.
Tái sinh phụ phẩm nông nghiệp
Nguồn phụ phẩm nông nghiệp phát sinh mỗi năm rất lớn đang trở thành “nguồn tài nguyên thứ hai” khi được xử lý bằng công nghệ sinh học (CNSH).
Theo ông Kiều Văn Cang - Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Sở Nông nghiệp và Môi trường), với hơn 773 nghìn ha gieo trồng, mỗi năm, toàn tỉnh phát sinh trên 4,35 triệu tấn phụ phẩm từ rơm rạ, thân lá cây trồng, vỏ cà phê, điều, sầu riêng, mía và nhiều loại nông sản khác.
Nếu trước đây, phần lớn phụ phẩm bị đốt bỏ hoặc thải ra môi trường thì nay, nhiều loại đã được tận dụng để sản xuất phân hữu cơ, phân vi sinh, thức ăn chăn nuôi, giá thể trồng nấm, than hoạt tính hoặc nhiên liệu sinh hoạt.
Thông qua các mô hình khuyến nông và hướng dẫn của ngành chuyên môn, việc sử dụng chế phẩm Trichoderma và các vi sinh vật có ích để xử lý phụ phẩm ngày càng phổ biến, giúp nông dân biến nguồn thải thành đầu vào cho vụ sản xuất tiếp theo.
Tại nhiều vùng sản xuất, tỷ lệ thu gom, tái sử dụng phụ phẩm đạt mức cao. Hiện phụ phẩm đậu phụng được thu gom gần như 100%; rơm rạ đạt khoảng 98%; thân bắp, thân mì đạt 90-95%; bã mía đạt 100% và vỏ cà phê khoảng 95%. Những con số này cho thấy kinh tế tuần hoàn đã từng bước hiện diện trong thực tiễn sản xuất.

Nông dân trong tỉnh sử dụng chế phẩm sinh học, thuốc bảo vệ thực vật sinh học trong chăm sóc cây trồng. Ảnh: H.T
Tại HTX Nông nghiệp và Dịch vụ Nam Yang (xã Kon Gang), hơn 90% thành viên duy trì việc ủ phân hữu cơ từ vỏ cà phê, phân bò và chế phẩm Trichoderma để chăm sóc gần 200 ha hồ tiêu, cà phê.
Ông Nguyễn Tấn Công - Chủ tịch Hội đồng quản trị HTX Nông nghiệp và Dịch vụ Nam Yang - cho biết, sau khoảng 3 tháng ủ, phụ phẩm được chuyển hóa thành nguồn mùn giàu dinh dưỡng, giúp đất tơi xốp, cây hấp thu dinh dưỡng tốt hơn, hạn chế sâu bệnh, nhất là bệnh chết nhanh, chết chậm trên hồ tiêu.
Không chỉ cải tạo đất, cách làm này còn góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm. Đến nay, HTX có 5 sản phẩm OCOP 5 sao, gồm cà phê Fine Robusta, cà phê Đăk Yang, tiêu đỏ hữu cơ Lệ Chí, tiêu đen hữu cơ Lệ Chí và tiêu sọ hữu cơ Lệ Chí.

Ông Nguyễn Tấn Công - Chủ tịch Hội đồng quản trị HTX Nông nghiệp và Dịch vụ Nam Yang (xã Kon Gang) tiên phong tự sản xuất phân bón hữu cơ từ phụ phẩm để bón cho cà phê, hồ tiêu. Ảnh: H.T
Ở vùng chuyên canh rau Thuận Nghĩa (thôn Kiên Mỹ, xã Tây Sơn), việc tận dụng phụ phẩm rau màu để sản xuất phân hữu cơ cũng đang lan tỏa. Giám đốc HTX Nông nghiệp Thuận Nghĩa Quách Văn Cầu nói rằng, từ khi triển khai mô hình năm 2024, phần lớn trong số 458 hộ sản xuất rau của địa phương đã áp dụng, giúp giảm khoảng 20% chi phí mua phân hữu cơ.
Bà Nguyễn Thị Tùng - thành viên HTX - cho hay, hằng ngày, gia đình thu gom lá rau bỏ đi để ủ thành phân, sau đó bón trở lại cho đất. Cách làm này vừa giảm lượng chất thải phát sinh, vừa giảm chi phí sản xuất.
Mở đường cho kinh tế tuần hoàn
Không chỉ tạo vòng tuần hoàn trong sản xuất nông nghiệp, CNSH còn được mở rộng sang xử lý chất thải sinh hoạt, chăn nuôi và công nghiệp, từng bước hình thành những mắt xích của kinh tế tuần hoàn.
Theo ông Nguyễn Việt Cường - Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường (Sở Nông nghiệp và Môi trường), thời gian qua, các cơ quan chuyên môn, tổ chức khoa học, doanh nghiệp và địa phương đã phối hợp hướng dẫn người dân áp dụng phương pháp ủ phân bằng chế phẩm sinh học để xử lý chất thải chăn nuôi, rác hữu cơ sinh hoạt.
Một số mô hình bước đầu cho thấy hiệu quả rõ nét. Điển hình là mô hình phân loại rác tại nguồn, sử dụng chế phẩm sinh học xử lý rác hữu cơ, tận dụng nước rỉ rác để bón rau tại khu vực xã Tây Sơn.
Cùng với đó, tỉnh đang định hướng thu hút đầu tư nhà máy xử lý rác khu vực phía Bắc bằng công nghệ hỗn hợp có ứng dụng công nghệ vi sinh, đồng thời khuyến khích mở rộng ứng dụng CNSH trong xử lý nước thải và chất thải rắn.
Trong lĩnh vực chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, nhiều chế phẩm sinh học do Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN nghiên cứu đã được đưa vào thực tiễn.
Từ năm 2021 đến nay, đơn vị đã hoàn thiện 5 chế phẩm gồm Bidi-agri, Bidi-aqua, Bidi-imo, Bio Grow và Bitricho, phục vụ trồng trọt, thủy sản và xử lý chất thải chăn nuôi thành phân bón hữu cơ.
Gia đình anh Lê Viết Đen (làng Plei Briêng, xã Chư Pưh) là một trong những hộ ứng dụng hiệu quả mô hình này. Với đàn bò 12 con và khoảng 1,5 ha cà phê cùng nhiều loại cây trồng khác, gia đình tận dụng phân bò, vỏ cà phê và rơm kết hợp chế phẩm Bio Grow để sản xuất phân hữu cơ.
“Sau khoảng 30 ngày xử lý, nguồn phân này được sử dụng trở lại cho cây trồng, giúp giảm sử dụng phân bón hóa học và tiết kiệm chi phí sản xuất” - anh Đen chia sẻ.
Không chỉ ở quy mô hộ, nhiều doanh nghiệp cũng đang khai thác hiệu quả nguồn chất thải hữu cơ. Ông Nguyễn Thông - Giám đốc Công ty CP Công nghệ hữu cơ Thái An (phường An Nhơn) cho biết, doanh nghiệp liên kết với nông dân xã Tây Sơn trồng 50 ha sả để chế biến tinh dầu.
Chu trình sản xuất gần như khép kín khi lá sả sau thu hoạch được tận dụng làm đệm lót sinh học cho đàn 60.000 con gà đẻ; sau đó phối trộn với phân gà, tro trấu, tro mía, phôi thải nấm và chế phẩm vi sinh để sản xuất phân bón hữu cơ. Mỗi năm, doanh nghiệp cung cấp hơn 1.000 tấn phân bón hữu cơ ra thị trường, biến chất thải sản xuất thành nguồn tài nguyên có giá trị.
Trong nuôi trồng thủy sản, CNSH cũng giúp kiểm soát môi trường nuôi hiệu quả hơn. Ông Võ Thành Phúc (xã Phù Mỹ Bắc) đầu tư hệ thống tuần hoàn nước RAS kết hợp sử dụng men vi sinh cho các ao nuôi khoảng 1 ha. Nhờ môi trường nước được kiểm soát ổn định, mỗi vụ, gia đình ông thu gần 2,5 tấn cá thương phẩm, lợi nhuận đạt khoảng 700-800 triệu đồng.
Thúc đẩy sản xuất xanh
Không chỉ trong sản xuất nông nghiệp, CNSH còn được mở rộng ở quy mô công nghiệp. Theo ông Nguyễn Việt Cường, hiện trên địa bàn tỉnh có 2 hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tập trung vận hành hiệu quả bằng công nghệ vi sinh, gồm: Nhà máy xử lý nước thải 2A (phường Quy Nhơn Bắc), công suất 2.350 m³/ngày đêm và Nhà máy xử lý nước thải Nhơn Bình (phường Quy Nhơn Đông), công suất 28.000 m³/ngày đêm.
Quá trình xử lý sinh học bằng vi sinh vật giúp phân hủy các hợp chất hữu cơ, giảm lượng hóa chất sử dụng và nâng cao hiệu quả làm sạch nguồn nước.

Nhà máy xử lý nước thải 2A (phường Quy Nhơn Bắc) áp dụng CNSH trong xử lý nước thải đô thị. Ảnh: ĐVCC
Bà Nguyễn Thị Xuân Biên - Giám đốc Công ty CP Môi trường Bình Định - đánh giá, CNSH tự nhiên phù hợp với đặc điểm nước thải đô thị hiện nay, giúp hệ thống vận hành ổn định khi lưu lượng nước thải ngày càng tăng.
Tại các khu kinh tế và khu công nghiệp, xu hướng sản xuất xanh cũng đang được thúc đẩy. Phó Trưởng Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Nguyễn Thanh Nguyên nhấn mạnh, các dự án mới đều được khuyến khích áp dụng công nghệ tiên tiến, tiết kiệm năng lượng và tăng cường tái sử dụng chất thải ngay từ khâu thiết kế.
Hiện có hơn 30 doanh nghiệp ứng dụng CNSH trong sản xuất; nhiều đơn vị sử dụng công nghệ vi sinh để xử lý nước thải và chất thải hữu cơ, góp phần giảm ô nhiễm môi trường.

Công ty TNHH Tân Gia Băng (Khu công nghiệp Trà Đa, phường Pleiku) ứng dụng quy trình CNSH kết hợp hóa lý trong xử lý nước thải đạt cột B. Ảnh: H.T
Một trong những mô hình tiêu biểu là Công ty TNHH Tân Gia Băng (Khu công nghiệp Trà Đa, phường Pleiku).
Mỗi ngày, doanh nghiệp phát sinh khoảng 400 m³ nước thải từ sản xuất giấy và đã đầu tư hệ thống xử lý công suất 600 m³/ngày đêm kết hợp CNSH với hóa lý.
Sau xử lý, khoảng 80% lượng nước được tuần hoàn trở lại dây chuyền sản xuất, góp phần giảm khai thác nguồn nước đầu vào và tiết kiệm chi phí vận hành.
Từ vỏ cà phê trên nương rẫy, rác hữu cơ trong khu dân cư đến chất thải sau sản xuất tại nhà máy, CNSH đang từng bước biến nguồn thải thành tài nguyên, tạo thêm giá trị cho sản xuất và giảm áp lực môi trường.
Tuy nhiên, từ những mô hình hiệu quả bước đầu đến mục tiêu hình thành ngành kinh tế - kỹ thuật vẫn còn khoảng cách. Những điểm nghẽn nào cần tháo gỡ để CNSH thực sự trở thành động lực phát triển xanh, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn?
----------------------------------
Kỳ cuối: Gỡ nút thắt để công nghệ sinh học bứt phá
Tái sinh phụ phẩm nông nghiệp
Nguồn phụ phẩm nông nghiệp phát sinh mỗi năm rất lớn đang trở thành “nguồn tài nguyên thứ hai” khi được xử lý bằng công nghệ sinh học (CNSH).
Theo ông Kiều Văn Cang - Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Sở Nông nghiệp và Môi trường), với hơn 773 nghìn ha gieo trồng, mỗi năm, toàn tỉnh phát sinh trên 4,35 triệu tấn phụ phẩm từ rơm rạ, thân lá cây trồng, vỏ cà phê, điều, sầu riêng, mía và nhiều loại nông sản khác.
Nếu trước đây, phần lớn phụ phẩm bị đốt bỏ hoặc thải ra môi trường thì nay, nhiều loại đã được tận dụng để sản xuất phân hữu cơ, phân vi sinh, thức ăn chăn nuôi, giá thể trồng nấm, than hoạt tính hoặc nhiên liệu sinh hoạt.
Thông qua các mô hình khuyến nông và hướng dẫn của ngành chuyên môn, việc sử dụng chế phẩm Trichoderma và các vi sinh vật có ích để xử lý phụ phẩm ngày càng phổ biến, giúp nông dân biến nguồn thải thành đầu vào cho vụ sản xuất tiếp theo.
Tại nhiều vùng sản xuất, tỷ lệ thu gom, tái sử dụng phụ phẩm đạt mức cao. Hiện phụ phẩm đậu phụng được thu gom gần như 100%; rơm rạ đạt khoảng 98%; thân bắp, thân mì đạt 90-95%; bã mía đạt 100% và vỏ cà phê khoảng 95%. Những con số này cho thấy kinh tế tuần hoàn đã từng bước hiện diện trong thực tiễn sản xuất.
Nông dân trong tỉnh sử dụng chế phẩm sinh học, thuốc bảo vệ thực vật sinh học trong chăm sóc cây trồng. Ảnh: H.T
Tại HTX Nông nghiệp và Dịch vụ Nam Yang (xã Kon Gang), hơn 90% thành viên duy trì việc ủ phân hữu cơ từ vỏ cà phê, phân bò và chế phẩm Trichoderma để chăm sóc gần 200 ha hồ tiêu, cà phê.
Ông Nguyễn Tấn Công - Chủ tịch Hội đồng quản trị HTX Nông nghiệp và Dịch vụ Nam Yang - cho biết, sau khoảng 3 tháng ủ, phụ phẩm được chuyển hóa thành nguồn mùn giàu dinh dưỡng, giúp đất tơi xốp, cây hấp thu dinh dưỡng tốt hơn, hạn chế sâu bệnh, nhất là bệnh chết nhanh, chết chậm trên hồ tiêu.
Không chỉ cải tạo đất, cách làm này còn góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm. Đến nay, HTX có 5 sản phẩm OCOP 5 sao, gồm cà phê Fine Robusta, cà phê Đăk Yang, tiêu đỏ hữu cơ Lệ Chí, tiêu đen hữu cơ Lệ Chí và tiêu sọ hữu cơ Lệ Chí.
Ông Nguyễn Tấn Công - Chủ tịch Hội đồng quản trị HTX Nông nghiệp và Dịch vụ Nam Yang (xã Kon Gang) tiên phong tự sản xuất phân bón hữu cơ từ phụ phẩm để bón cho cà phê, hồ tiêu. Ảnh: H.T
Ở vùng chuyên canh rau Thuận Nghĩa (thôn Kiên Mỹ, xã Tây Sơn), việc tận dụng phụ phẩm rau màu để sản xuất phân hữu cơ cũng đang lan tỏa. Giám đốc HTX Nông nghiệp Thuận Nghĩa Quách Văn Cầu nói rằng, từ khi triển khai mô hình năm 2024, phần lớn trong số 458 hộ sản xuất rau của địa phương đã áp dụng, giúp giảm khoảng 20% chi phí mua phân hữu cơ.
Bà Nguyễn Thị Tùng - thành viên HTX - cho hay, hằng ngày, gia đình thu gom lá rau bỏ đi để ủ thành phân, sau đó bón trở lại cho đất. Cách làm này vừa giảm lượng chất thải phát sinh, vừa giảm chi phí sản xuất.
Mở đường cho kinh tế tuần hoàn
Không chỉ tạo vòng tuần hoàn trong sản xuất nông nghiệp, CNSH còn được mở rộng sang xử lý chất thải sinh hoạt, chăn nuôi và công nghiệp, từng bước hình thành những mắt xích của kinh tế tuần hoàn.
Theo ông Nguyễn Việt Cường - Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường (Sở Nông nghiệp và Môi trường), thời gian qua, các cơ quan chuyên môn, tổ chức khoa học, doanh nghiệp và địa phương đã phối hợp hướng dẫn người dân áp dụng phương pháp ủ phân bằng chế phẩm sinh học để xử lý chất thải chăn nuôi, rác hữu cơ sinh hoạt.
Một số mô hình bước đầu cho thấy hiệu quả rõ nét. Điển hình là mô hình phân loại rác tại nguồn, sử dụng chế phẩm sinh học xử lý rác hữu cơ, tận dụng nước rỉ rác để bón rau tại khu vực xã Tây Sơn.
Cùng với đó, tỉnh đang định hướng thu hút đầu tư nhà máy xử lý rác khu vực phía Bắc bằng công nghệ hỗn hợp có ứng dụng công nghệ vi sinh, đồng thời khuyến khích mở rộng ứng dụng CNSH trong xử lý nước thải và chất thải rắn.
Trong lĩnh vực chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, nhiều chế phẩm sinh học do Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN nghiên cứu đã được đưa vào thực tiễn.
Từ năm 2021 đến nay, đơn vị đã hoàn thiện 5 chế phẩm gồm Bidi-agri, Bidi-aqua, Bidi-imo, Bio Grow và Bitricho, phục vụ trồng trọt, thủy sản và xử lý chất thải chăn nuôi thành phân bón hữu cơ.
Gia đình anh Lê Viết Đen (làng Plei Briêng, xã Chư Pưh) là một trong những hộ ứng dụng hiệu quả mô hình này. Với đàn bò 12 con và khoảng 1,5 ha cà phê cùng nhiều loại cây trồng khác, gia đình tận dụng phân bò, vỏ cà phê và rơm kết hợp chế phẩm Bio Grow để sản xuất phân hữu cơ.
“Sau khoảng 30 ngày xử lý, nguồn phân này được sử dụng trở lại cho cây trồng, giúp giảm sử dụng phân bón hóa học và tiết kiệm chi phí sản xuất” - anh Đen chia sẻ.
Không chỉ ở quy mô hộ, nhiều doanh nghiệp cũng đang khai thác hiệu quả nguồn chất thải hữu cơ. Ông Nguyễn Thông - Giám đốc Công ty CP Công nghệ hữu cơ Thái An (phường An Nhơn) cho biết, doanh nghiệp liên kết với nông dân xã Tây Sơn trồng 50 ha sả để chế biến tinh dầu.
Chu trình sản xuất gần như khép kín khi lá sả sau thu hoạch được tận dụng làm đệm lót sinh học cho đàn 60.000 con gà đẻ; sau đó phối trộn với phân gà, tro trấu, tro mía, phôi thải nấm và chế phẩm vi sinh để sản xuất phân bón hữu cơ. Mỗi năm, doanh nghiệp cung cấp hơn 1.000 tấn phân bón hữu cơ ra thị trường, biến chất thải sản xuất thành nguồn tài nguyên có giá trị.
Trong nuôi trồng thủy sản, CNSH cũng giúp kiểm soát môi trường nuôi hiệu quả hơn. Ông Võ Thành Phúc (xã Phù Mỹ Bắc) đầu tư hệ thống tuần hoàn nước RAS kết hợp sử dụng men vi sinh cho các ao nuôi khoảng 1 ha. Nhờ môi trường nước được kiểm soát ổn định, mỗi vụ, gia đình ông thu gần 2,5 tấn cá thương phẩm, lợi nhuận đạt khoảng 700-800 triệu đồng.
Thúc đẩy sản xuất xanh
Không chỉ trong sản xuất nông nghiệp, CNSH còn được mở rộng ở quy mô công nghiệp. Theo ông Nguyễn Việt Cường, hiện trên địa bàn tỉnh có 2 hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tập trung vận hành hiệu quả bằng công nghệ vi sinh, gồm: Nhà máy xử lý nước thải 2A (phường Quy Nhơn Bắc), công suất 2.350 m³/ngày đêm và Nhà máy xử lý nước thải Nhơn Bình (phường Quy Nhơn Đông), công suất 28.000 m³/ngày đêm.
Quá trình xử lý sinh học bằng vi sinh vật giúp phân hủy các hợp chất hữu cơ, giảm lượng hóa chất sử dụng và nâng cao hiệu quả làm sạch nguồn nước.
Nhà máy xử lý nước thải 2A (phường Quy Nhơn Bắc) áp dụng CNSH trong xử lý nước thải đô thị. Ảnh: ĐVCC
Bà Nguyễn Thị Xuân Biên - Giám đốc Công ty CP Môi trường Bình Định - đánh giá, CNSH tự nhiên phù hợp với đặc điểm nước thải đô thị hiện nay, giúp hệ thống vận hành ổn định khi lưu lượng nước thải ngày càng tăng.
Tại các khu kinh tế và khu công nghiệp, xu hướng sản xuất xanh cũng đang được thúc đẩy. Phó Trưởng Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Nguyễn Thanh Nguyên nhấn mạnh, các dự án mới đều được khuyến khích áp dụng công nghệ tiên tiến, tiết kiệm năng lượng và tăng cường tái sử dụng chất thải ngay từ khâu thiết kế.
Hiện có hơn 30 doanh nghiệp ứng dụng CNSH trong sản xuất; nhiều đơn vị sử dụng công nghệ vi sinh để xử lý nước thải và chất thải hữu cơ, góp phần giảm ô nhiễm môi trường.
Công ty TNHH Tân Gia Băng (Khu công nghiệp Trà Đa, phường Pleiku) ứng dụng quy trình CNSH kết hợp hóa lý trong xử lý nước thải đạt cột B. Ảnh: H.T
Một trong những mô hình tiêu biểu là Công ty TNHH Tân Gia Băng (Khu công nghiệp Trà Đa, phường Pleiku).
Mỗi ngày, doanh nghiệp phát sinh khoảng 400 m³ nước thải từ sản xuất giấy và đã đầu tư hệ thống xử lý công suất 600 m³/ngày đêm kết hợp CNSH với hóa lý.
Sau xử lý, khoảng 80% lượng nước được tuần hoàn trở lại dây chuyền sản xuất, góp phần giảm khai thác nguồn nước đầu vào và tiết kiệm chi phí vận hành.
Từ vỏ cà phê trên nương rẫy, rác hữu cơ trong khu dân cư đến chất thải sau sản xuất tại nhà máy, CNSH đang từng bước biến nguồn thải thành tài nguyên, tạo thêm giá trị cho sản xuất và giảm áp lực môi trường.
Tuy nhiên, từ những mô hình hiệu quả bước đầu đến mục tiêu hình thành ngành kinh tế - kỹ thuật vẫn còn khoảng cách. Những điểm nghẽn nào cần tháo gỡ để CNSH thực sự trở thành động lực phát triển xanh, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn?
----------------------------------











