Đẩy mạnh phát triển công nghệ sinh học - Kỳ cuối: Gỡ nút thắt để công nghệ sinh học bứt phá

Muốn công nghệ sinh học thực sự trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng như mục tiêu Chỉ thị số 10/CT-UBND của tỉnh đặt ra, tỉnh cần giải quyết những điểm nghẽn về nguồn lực, liên kết nghiên cứu - sản xuất và khả năng thương mại hóa sản phẩm.

Tại cụm nhà máy ở Khu công nghiệp Trà Đa (phường Pleiku), dây chuyền chiết xuất dược liệu của Công ty TNHH Phát triển Khoa học Quốc tế Trường Sinh đang từng bước được đầu tư, mở rộng. Theo ông Phan Thanh Thiên - Chủ tịch Hội đồng thành viên công ty, Chủ tịch Hội đồng Doanh nghiệp Nông nghiệp Việt Nam, ngay từ khi thành lập, DN xác định công nghệ sinh học (CNSH) là nền tảng để phát triển ngành dược liệu theo hướng bền vững.

Trường Sinh xây dựng chuỗi liên kết từ vùng nguyên liệu, nghiên cứu, chế biến đến thương mại hóa sản phẩm, qua đó nâng cao giá trị nguồn dược liệu địa phương nhờ ứng dụng CNSH.

Tuy nhiên, câu chuyện của Trường Sinh cũng phản ánh thực tế chung về CNSH tại tỉnh là khi đã hình thành những mô hình bước đầu hiệu quả, có lợi thế về tài nguyên sinh học nhưng để phát triển thành một ngành kinh tế - kỹ thuật vẫn cần tháo gỡ những hạn chế về cơ chế, nguồn lực và sự liên kết giữa các chủ thể.

Ba nút thắt cần được tháo gỡ

Theo Phó Giám đốc Sở KH&CN Nguyễn Hữu Hà, khó khăn lớn hiện nay là quy mô sản xuất của phần lớn doanh nghiệp (DN), hợp tác xã còn nhỏ; năng lực đầu tư đổi mới công nghệ hạn chế. Bên cạnh đó, hạ tầng phục vụ nghiên cứu và phát triển còn thiếu đồng bộ. Các phòng thí nghiệm chuyên sâu, cơ sở dữ liệu nguồn gen, vùng nguyên liệu đạt chuẩn hay hệ thống nghiên cứu phục vụ chuyển giao công nghệ vẫn cần tiếp tục đầu tư.

Đối với lĩnh vực dược liệu - một trong những lợi thế nổi bật của tỉnh, tỷ lệ chế biến sâu còn thấp, việc tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật chưa đồng đều và chưa hình thành được nhiều chuỗi giá trị có quy mô lớn.

Một số DN vẫn còn tâm lý thận trọng trước rủi ro khi đầu tư cho công nghệ mới, khiến quá trình đổi mới diễn ra chậm hơn so với yêu cầu.

Để khắc phục những hạn chế này, Sở KH&CN đang tham mưu xây dựng cơ chế hỗ trợ nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa sản phẩm CNSH; đồng thời triển khai xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm về CNSH tại Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN, cùng cơ sở dữ liệu về CNSH và nguồn gen trên địa bàn tỉnh.

 Công nhân Công ty TNHH Phát triển Khoa học Quốc tế Trường Sinh kiểm tra, đóng gói sản phẩm dược liệu trước khi đưa ra thị trường. Ảnh: HUYỀN TRANG

Công nhân Công ty TNHH Phát triển Khoa học Quốc tế Trường Sinh kiểm tra, đóng gói sản phẩm dược liệu trước khi đưa ra thị trường. Ảnh: HUYỀN TRANG

Từ góc độ nghiên cứu, PGS.TSKH Nguyễn Thị Mộng Điệp, giảng viên cao cấp Trường ĐH Quy Nhơn, cho rằng vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ là có ý tưởng nghiên cứu hay đội ngũ nhân lực, mà quan trọng hơn là tạo môi trường để các nhà khoa học có điều kiện phát huy năng lực.

Theo PGS Mộng Điệp, cần tăng quyền tự chủ cho những nhóm nghiên cứu đã chứng minh được năng lực, rút ngắn các khâu trung gian trong quá trình triển khai, qua đó nâng cao hiệu quả đầu tư cho khoa học và đẩy nhanh khả năng đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

 PGS.TS Nguyễn Thị Mộng Điệp (Trường ĐH Quy Nhơn) cho rằng cần mạnh dạn trao thêm quyền tự chủ cho các nhóm nghiên cứu đã chứng minh được năng lực và hiệu quả hoạt động. Ảnh: T.LỢI

PGS.TS Nguyễn Thị Mộng Điệp (Trường ĐH Quy Nhơn) cho rằng cần mạnh dạn trao thêm quyền tự chủ cho các nhóm nghiên cứu đã chứng minh được năng lực và hiệu quả hoạt động. Ảnh: T.LỢI

Nhìn từ góc độ quản lý, DN và học thuật, nút thắt của CNSH Gia Lai không nằm ở tiềm năng hay các mô hình thử nghiệm, mà ở khả năng kết nối giữa chính sách với nguồn lực, nghiên cứu với sản xuất, sáng tạo khoa học với thương mại hóa sản phẩm.

Mở không gian phát triển mới

Dù còn nhiều khó khăn, Gia Lai vẫn có những lợi thế quan trọng để phát triển CNSH, đặc biệt là nguồn tài nguyên dược liệu phong phú.

Từ góc nhìn nghiên cứu, PGS.TS Nguyễn Bảo Quốc (Trường ĐH Nông Lâm TP Hồ Chí Minh), Gia Lai sở hữu nguồn tài nguyên dược liệu phong phú với nhiều loài phân bố theo từng vùng sinh thái. Khu vực khí hậu mát và vùng khí hậu nóng đều có nhiều loài dược liệu quý, tạo điều kiện quy hoạch vùng sản xuất tập trung và phát triển sản phẩm đặc trưng.

Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Văn Hoan, tỉnh hiện có gần 1.500 ha dược liệu, trong đó nhiều vùng trồng đạt tiêu chuẩn GACP-WHO. Ngành đang tham mưu quy hoạch vùng dược liệu tập trung gắn với sản xuất, chế biến, tiêu thụ; đồng thời bảo tồn nguồn gen, ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô để nhân giống các loài có giá trị như sâm Ngọc Linh, lan kim tuyến, đông trùng hạ thảo, tạo nền tảng kết nối nghiên cứu với sản xuất.

 Công nhân Công ty CP Nafoods Gia Lai (phường An Phú) sơ chế chanh dây tươi trước khi chế biến. Ảnh: DƯƠNG THÚY

Công nhân Công ty CP Nafoods Gia Lai (phường An Phú) sơ chế chanh dây tươi trước khi chế biến. Ảnh: DƯƠNG THÚY

Tiềm năng này cũng được khẳng định tại Hội thảo quốc tế lần thứ hai về Cây dược liệu và Hợp chất thiên nhiên tổ chức tại Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE) tháng 3.2026, với sự tham gia của hơn 120 nhà khoa học đến từ 14 quốc gia.

Theo GS Eric Gontier (ĐH Picardie Jules Verne, Pháp), phát triển dược liệu bền vững cần gắn với việc mở rộng vùng trồng đạt chuẩn, bảo tồn nguồn gen và bảo vệ môi trường.

Trong khi đó, TS Trần Thanh Sơn - Phó Giám đốc ICISE, cho rằng một trong những hạn chế của ngành dược liệu Việt Nam hiện nay là phần lớn sản phẩm vẫn xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô, trong khi quy mô DN còn nhỏ, thiếu liên kết và năng lực chế biến sâu chưa đáp ứng yêu cầu.

Hoàn thiện hệ sinh thái phát triển công nghệ sinh học

Để khai thác hiệu quả những lợi thế đó, tỉnh đang tập trung hoàn thiện hệ sinh thái phát triển CNSH, trong đó trọng tâm là hoàn thiện cơ chế hỗ trợ, đầu tư hạ tầng nghiên cứu và thúc đẩy liên kết giữa nhà nước, nhà khoa học, DN và người dân. Liên kết “4 nhà” tiếp tục được xác định là hướng đi xuyên suốt: Nhà khoa học nghiên cứu, tạo ra công nghệ; DN đầu tư sản xuất, thương mại hóa sản phẩm; người dân tham gia phát triển vùng nguyên liệu; nhà nước giữ vai trò định hướng, ban hành cơ chế và hỗ trợ kết nối.

Theo Phó Giám đốc Sở Y tế Lý Minh Thái, ngành y tế sẽ từng bước làm chủ công nghệ sản xuất thuốc sinh học, sinh phẩm y tế nhằm giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài; đồng thời phát triển vùng trồng dược liệu đạt chuẩn GACP-WHO, bảo tồn nguồn gen quý, nâng cao năng lực kiểm nghiệm và truy xuất nguồn gốc.

 Công nhân Công ty TNHH Phát triển Khoa học Quốc tế Trường Sinh kiểm tra, đóng gói sản phẩm dược liệu trước khi đưa ra thị trường. Ảnh: HUYỀN TRANG

Công nhân Công ty TNHH Phát triển Khoa học Quốc tế Trường Sinh kiểm tra, đóng gói sản phẩm dược liệu trước khi đưa ra thị trường. Ảnh: HUYỀN TRANG

Ở góc độ DN, Công ty TNHH Phát triển Khoa học Quốc tế Trường Sinh là mô hình cho thấy khả năng nâng cao giá trị dược liệu khi công nghệ gắn với sản xuất. DN tiếp tục mở rộng vùng nguyên liệu, ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô, đầu tư dây chuyền sản xuất đạt chuẩn GMP và phát triển kinh tế tuần hoàn từ phụ phẩm dược liệu. Đến nay, DN đã nghiên cứu, sản xuất hơn 40 sản phẩm ứng dụng CNSH.

Nhìn nhận Chỉ thị số 10/CT-UBND của UBND tỉnh là định hướng quan trọng đối với cộng đồng DN dược liệu và CNSH, ông Phan Thanh Thiên cho biết thêm, Trường Sinh tập trung vào 3 nhiệm vụ chính: Mở rộng vùng trồng dược liệu công nghệ cao gắn với người dân; tăng cường hợp tác với các viện, trường để chuẩn hóa giống, quy trình canh tác, ứng dụng CNSH, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo; tiếp tục đầu tư chế biến sâu, hoàn thiện chuỗi từ nghiên cứu đến thương mại.

Ở góc độ quản lý ngành, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Cao Thanh Thương nhấn mạnh thời gian tới tỉnh sẽ đẩy mạnh ứng dụng CNSH trên toàn chuỗi giá trị nông nghiệp, ưu tiên lĩnh vực như công nghệ gen, vi nhân giống, chế phẩm sinh học, bảo quản sau thu hoạch; xây dựng cơ sở dữ liệu nguồn gen phục vụ nghiên cứu, chọn tạo giống và phát triển sản phẩm đặc trưng.

Gia Lai đã hình thành những nền tảng quan trọng để phát triển CNSH. Từ yêu cầu nâng cao chất lượng, giá trị sản xuất nông nghiệp, tỉnh từng bước xây dựng các vùng nguyên liệu lớn gắn với sản xuất theo chuỗi và ứng dụng công nghệ cao. Cùng với đó, việc phát triển nhân lực, đầu tư hạ tầng nghiên cứu ngày càng được quan tâm, tạo tiền đề để CNSH trở thành giải pháp quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Vấn đề đặt ra hiện nay là triển khai đồng bộ cơ chế, chính sách; huy động hiệu quả nguồn lực xã hội; tăng cường kết nối giữa nghiên cứu, chuyển giao công nghệ với sản xuất và thị trường. Khi các điểm nghẽn về cơ chế, hạ tầng và liên kết được tháo gỡ, CNSH sẽ vượt qua giới hạn tiềm năng, trở thành động lực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao giá trị sản xuất và thúc đẩy phát triển bền vững.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh LÂM HẢI GIANG

Tại cụm nhà máy ở Khu công nghiệp Trà Đa (phường Pleiku), dây chuyền chiết xuất dược liệu của Công ty TNHH Phát triển Khoa học Quốc tế Trường Sinh đang từng bước được đầu tư, mở rộng. Theo ông Phan Thanh Thiên - Chủ tịch Hội đồng thành viên công ty, Chủ tịch Hội đồng Doanh nghiệp Nông nghiệp Việt Nam, ngay từ khi thành lập, DN xác định công nghệ sinh học (CNSH) là nền tảng để phát triển ngành dược liệu theo hướng bền vững.

Trường Sinh xây dựng chuỗi liên kết từ vùng nguyên liệu, nghiên cứu, chế biến đến thương mại hóa sản phẩm, qua đó nâng cao giá trị nguồn dược liệu địa phương nhờ ứng dụng CNSH.

Tuy nhiên, câu chuyện của Trường Sinh cũng phản ánh thực tế chung về CNSH tại tỉnh là khi đã hình thành những mô hình bước đầu hiệu quả, có lợi thế về tài nguyên sinh học nhưng để phát triển thành một ngành kinh tế - kỹ thuật vẫn cần tháo gỡ những hạn chế về cơ chế, nguồn lực và sự liên kết giữa các chủ thể.

Ba nút thắt cần được tháo gỡ

Theo Phó Giám đốc Sở KH&CN Nguyễn Hữu Hà, khó khăn lớn hiện nay là quy mô sản xuất của phần lớn doanh nghiệp (DN), hợp tác xã còn nhỏ; năng lực đầu tư đổi mới công nghệ hạn chế. Bên cạnh đó, hạ tầng phục vụ nghiên cứu và phát triển còn thiếu đồng bộ. Các phòng thí nghiệm chuyên sâu, cơ sở dữ liệu nguồn gen, vùng nguyên liệu đạt chuẩn hay hệ thống nghiên cứu phục vụ chuyển giao công nghệ vẫn cần tiếp tục đầu tư.

Đối với lĩnh vực dược liệu - một trong những lợi thế nổi bật của tỉnh, tỷ lệ chế biến sâu còn thấp, việc tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật chưa đồng đều và chưa hình thành được nhiều chuỗi giá trị có quy mô lớn.

Một số DN vẫn còn tâm lý thận trọng trước rủi ro khi đầu tư cho công nghệ mới, khiến quá trình đổi mới diễn ra chậm hơn so với yêu cầu.

Để khắc phục những hạn chế này, Sở KH&CN đang tham mưu xây dựng cơ chế hỗ trợ nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao và thương mại hóa sản phẩm CNSH; đồng thời triển khai xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm về CNSH tại Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN, cùng cơ sở dữ liệu về CNSH và nguồn gen trên địa bàn tỉnh.

Công nhân Công ty TNHH Phát triển Khoa học Quốc tế Trường Sinh kiểm tra, đóng gói sản phẩm dược liệu trước khi đưa ra thị trường. Ảnh: HUYỀN TRANG

Từ góc độ nghiên cứu, PGS.TSKH Nguyễn Thị Mộng Điệp, giảng viên cao cấp Trường ĐH Quy Nhơn, cho rằng vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ là có ý tưởng nghiên cứu hay đội ngũ nhân lực, mà quan trọng hơn là tạo môi trường để các nhà khoa học có điều kiện phát huy năng lực.

Theo PGS Mộng Điệp, cần tăng quyền tự chủ cho những nhóm nghiên cứu đã chứng minh được năng lực, rút ngắn các khâu trung gian trong quá trình triển khai, qua đó nâng cao hiệu quả đầu tư cho khoa học và đẩy nhanh khả năng đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

PGS.TS Nguyễn Thị Mộng Điệp (Trường ĐH Quy Nhơn) cho rằng cần mạnh dạn trao thêm quyền tự chủ cho các nhóm nghiên cứu đã chứng minh được năng lực và hiệu quả hoạt động. Ảnh: T.LỢI

Nhìn từ góc độ quản lý, DN và học thuật, nút thắt của CNSH Gia Lai không nằm ở tiềm năng hay các mô hình thử nghiệm, mà ở khả năng kết nối giữa chính sách với nguồn lực, nghiên cứu với sản xuất, sáng tạo khoa học với thương mại hóa sản phẩm.

Mở không gian phát triển mới

Dù còn nhiều khó khăn, Gia Lai vẫn có những lợi thế quan trọng để phát triển CNSH, đặc biệt là nguồn tài nguyên dược liệu phong phú.

Từ góc nhìn nghiên cứu, PGS.TS Nguyễn Bảo Quốc (Trường ĐH Nông Lâm TP Hồ Chí Minh), Gia Lai sở hữu nguồn tài nguyên dược liệu phong phú với nhiều loài phân bố theo từng vùng sinh thái. Khu vực khí hậu mát và vùng khí hậu nóng đều có nhiều loài dược liệu quý, tạo điều kiện quy hoạch vùng sản xuất tập trung và phát triển sản phẩm đặc trưng.

Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Văn Hoan, tỉnh hiện có gần 1.500 ha dược liệu, trong đó nhiều vùng trồng đạt tiêu chuẩn GACP-WHO. Ngành đang tham mưu quy hoạch vùng dược liệu tập trung gắn với sản xuất, chế biến, tiêu thụ; đồng thời bảo tồn nguồn gen, ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô để nhân giống các loài có giá trị như sâm Ngọc Linh, lan kim tuyến, đông trùng hạ thảo, tạo nền tảng kết nối nghiên cứu với sản xuất.

Công nhân Công ty CP Nafoods Gia Lai (phường An Phú) sơ chế chanh dây tươi trước khi chế biến. Ảnh: DƯƠNG THÚY

Tiềm năng này cũng được khẳng định tại Hội thảo quốc tế lần thứ hai về Cây dược liệu và Hợp chất thiên nhiên tổ chức tại Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE) tháng 3.2026, với sự tham gia của hơn 120 nhà khoa học đến từ 14 quốc gia.

Theo GS Eric Gontier (ĐH Picardie Jules Verne, Pháp), phát triển dược liệu bền vững cần gắn với việc mở rộng vùng trồng đạt chuẩn, bảo tồn nguồn gen và bảo vệ môi trường.

Trong khi đó, TS Trần Thanh Sơn - Phó Giám đốc ICISE, cho rằng một trong những hạn chế của ngành dược liệu Việt Nam hiện nay là phần lớn sản phẩm vẫn xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô, trong khi quy mô DN còn nhỏ, thiếu liên kết và năng lực chế biến sâu chưa đáp ứng yêu cầu.

Hoàn thiện hệ sinh thái phát triển công nghệ sinh học

Để khai thác hiệu quả những lợi thế đó, tỉnh đang tập trung hoàn thiện hệ sinh thái phát triển CNSH, trong đó trọng tâm là hoàn thiện cơ chế hỗ trợ, đầu tư hạ tầng nghiên cứu và thúc đẩy liên kết giữa nhà nước, nhà khoa học, DN và người dân. Liên kết “4 nhà” tiếp tục được xác định là hướng đi xuyên suốt: Nhà khoa học nghiên cứu, tạo ra công nghệ; DN đầu tư sản xuất, thương mại hóa sản phẩm; người dân tham gia phát triển vùng nguyên liệu; nhà nước giữ vai trò định hướng, ban hành cơ chế và hỗ trợ kết nối.

Theo Phó Giám đốc Sở Y tế Lý Minh Thái, ngành y tế sẽ từng bước làm chủ công nghệ sản xuất thuốc sinh học, sinh phẩm y tế nhằm giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài; đồng thời phát triển vùng trồng dược liệu đạt chuẩn GACP-WHO, bảo tồn nguồn gen quý, nâng cao năng lực kiểm nghiệm và truy xuất nguồn gốc.

Công nhân Công ty TNHH Phát triển Khoa học Quốc tế Trường Sinh kiểm tra, đóng gói sản phẩm dược liệu trước khi đưa ra thị trường. Ảnh: HUYỀN TRANG

Ở góc độ DN, Công ty TNHH Phát triển Khoa học Quốc tế Trường Sinh là mô hình cho thấy khả năng nâng cao giá trị dược liệu khi công nghệ gắn với sản xuất. DN tiếp tục mở rộng vùng nguyên liệu, ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô, đầu tư dây chuyền sản xuất đạt chuẩn GMP và phát triển kinh tế tuần hoàn từ phụ phẩm dược liệu. Đến nay, DN đã nghiên cứu, sản xuất hơn 40 sản phẩm ứng dụng CNSH.

Nhìn nhận Chỉ thị số 10/CT-UBND của UBND tỉnh là định hướng quan trọng đối với cộng đồng DN dược liệu và CNSH, ông Phan Thanh Thiên cho biết thêm, Trường Sinh tập trung vào 3 nhiệm vụ chính: Mở rộng vùng trồng dược liệu công nghệ cao gắn với người dân; tăng cường hợp tác với các viện, trường để chuẩn hóa giống, quy trình canh tác, ứng dụng CNSH, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo; tiếp tục đầu tư chế biến sâu, hoàn thiện chuỗi từ nghiên cứu đến thương mại.

Ở góc độ quản lý ngành, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Cao Thanh Thương nhấn mạnh thời gian tới tỉnh sẽ đẩy mạnh ứng dụng CNSH trên toàn chuỗi giá trị nông nghiệp, ưu tiên lĩnh vực như công nghệ gen, vi nhân giống, chế phẩm sinh học, bảo quản sau thu hoạch; xây dựng cơ sở dữ liệu nguồn gen phục vụ nghiên cứu, chọn tạo giống và phát triển sản phẩm đặc trưng.

Gia Lai đã hình thành những nền tảng quan trọng để phát triển CNSH. Từ yêu cầu nâng cao chất lượng, giá trị sản xuất nông nghiệp, tỉnh từng bước xây dựng các vùng nguyên liệu lớn gắn với sản xuất theo chuỗi và ứng dụng công nghệ cao. Cùng với đó, việc phát triển nhân lực, đầu tư hạ tầng nghiên cứu ngày càng được quan tâm, tạo tiền đề để CNSH trở thành giải pháp quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Vấn đề đặt ra hiện nay là triển khai đồng bộ cơ chế, chính sách; huy động hiệu quả nguồn lực xã hội; tăng cường kết nối giữa nghiên cứu, chuyển giao công nghệ với sản xuất và thị trường. Khi các điểm nghẽn về cơ chế, hạ tầng và liên kết được tháo gỡ, CNSH sẽ vượt qua giới hạn tiềm năng, trở thành động lực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao giá trị sản xuất và thúc đẩy phát triển bền vững.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh LÂM HẢI GIANG

TRỌNG LỢI

Nguồn Gia Lai: https://baogialai.com.vn/day-manh-phat-trien-cong-nghe-sinh-hoc-ky-cuoi-go-nut-that-de-cong-nghe-sinh-hoc-but-pha-post594541.html