Đẩy nhanh kết nối, liên thông dữ liệu truy xuất nguồn gốc nông sản
Sau khi Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố, việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan quản lý, địa phương và doanh nghiệp đang được đẩy nhanh.
Hàng trăm nghìn sản phẩm đã được cập nhật, tạo nền tảng từng bước hình thành hệ thống truy xuất thống nhất, phục vụ quản lý chất lượng, minh bạch thông tin và nâng cao giá trị nông sản.
Từng bước hình thành hệ thống truy xuất thống nhất
Kể từ khi Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản ngày 1-7-2026, việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các địa phương, doanh nghiệp và hệ thống của Bộ đã có những bước tiến mới.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đã có thêm 9 đơn vị cung cấp giải pháp công nghệ truy xuất nguồn gốc gửi hồ sơ đăng ký kết nối với hệ thống. Các hồ sơ đang được xem xét, phê duyệt để triển khai theo quy định.
Cùng với đó, thêm 5 tỉnh, thành phố báo cáo kết quả triển khai truy xuất nguồn gốc nông sản, nâng tổng số địa phương đã có báo cáo lên 24/34 tỉnh, thành phố.
Đáng chú ý, 4 doanh nghiệp sản xuất, thương mại nông sản gồm Thaibinh Seed, Lộc Trời, Masan và Thiên Vương đã kết nối hệ thống truy xuất nguồn gốc do doanh nghiệp tự phát triển với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ. Đây là bước tiến quan trọng trong việc từng bước liên thông các hệ thống truy xuất đang được triển khai tại doanh nghiệp với hệ thống dùng chung ở cấp quốc gia.

24/34 tỉnh, thành phố đã kết nối hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản. Ảnh: PV
Tổng dữ liệu do các đơn vị cung cấp giải pháp truy xuất nguồn gốc và các tỉnh, thành phố kết nối, cập nhật vào Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ hiện gồm 158.234 sản phẩm thuộc 18.524 dòng sản phẩm. Số dữ liệu này được hình thành từ 200 doanh nghiệp và 2.948 hộ dân, hợp tác xã tại 24/34 tỉnh, thành phố.
Để phục vụ vận hành hệ thống, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã bố trí 40 máy chủ phục vụ triển khai thử nghiệm. Hai nền tảng phục vụ các nhóm đối tượng khác nhau cũng đã được công bố, trong đó nền tảng dành cho người dân và nền tảng dành cho cơ quan quản lý đã được đánh giá đáp ứng yêu cầu về an toàn thông tin.
Thực tế triển khai tại các địa phương cho thấy, quá trình kết nối đang được thực hiện theo hướng kế thừa hệ thống và dữ liệu sẵn có, hạn chế đầu tư trùng lặp.
Tại Hà Nội, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Tạ Văn Tường cho biết, hệ thống truy xuất nguồn gốc của thành phố hiện có trên 3.000 cơ sở và hơn 12.000 sản phẩm. Trong số này, khoảng 5% sản phẩm đã đáp ứng đầy đủ thông tin theo yêu cầu kết nối với Hệ thống truy xuất nguồn gốc của Bộ.
Việc xây dựng một hệ thống truy xuất thống nhất không chỉ nhằm cung cấp công cụ để người tiêu dùng kiểm tra thông tin sản phẩm. Quan trọng hơn, hệ thống sẽ tạo cơ sở để cơ quan quản lý theo dõi, xác thực và đối soát dữ liệu trong toàn bộ quá trình sản xuất, chế biến, lưu thông và tiêu thụ nông sản.

Sản phẩm bưởi Vân Hà (xã Phúc Lộc - Hà Nội) dán tem truy xuất nguồn gốc nông sản. Ảnh: PV
Còn tại Thái Nguyên, hệ thống quản lý chất lượng nông sản có 533 tài khoản, 5.136 cơ sở, 222 vùng sản xuất và quản lý 149 mã số vùng trồng. Đến nay, 6 doanh nghiệp, hợp tác xã đã đáp ứng yêu cầu kết nối với Hệ thống truy xuất nguồn gốc của Bộ.
Tỉnh Hưng Yên đã thực hiện kết nối, tích hợp và đồng bộ dữ liệu qua API với 536 đơn vị, 1.179 sản phẩm và 76 lô sản xuất. Trong khi đó, Quảng Ninh đã đồng bộ 1.097 cơ sở, 2.689 sản phẩm và 78 lô sản xuất, đạt 100% dữ liệu sẵn có trên hệ thống của tỉnh.
Tại Đắk Lắk, bước đầu đã thực hiện kết nối, đồng bộ dữ liệu của một hợp tác xã sản xuất sầu riêng với Hệ thống truy xuất nguồn gốc. Đây cũng là hướng triển khai đáng chú ý khi sầu riêng là một trong những ngành hàng có yêu cầu ngày càng cao về quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, kiểm nghiệm, kiểm dịch và thông tin lô hàng phục vụ xuất khẩu.
Từ thực tiễn này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định việc kết nối không nên dừng ở việc đưa dữ liệu từ các hệ thống khác nhau lên một nền tảng, mà cần tiến tới chuẩn hóa để dữ liệu có thể được chia sẻ, xác thực và khai thác hiệu quả.
Hoàn thiện truy xuất theo chuỗi, tăng giá trị nông sản
Một trong những nhiệm vụ được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định trong giai đoạn tới là hoàn thiện truy xuất nguồn gốc sầu riêng theo chuỗi. Theo đó, dữ liệu về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, kiểm nghiệm, kiểm dịch và lô hàng xuất khẩu sẽ được kết nối, tạo thành chuỗi thông tin xuyên suốt từ sản xuất đến thị trường. Khi dữ liệu được liên kết, việc xác định nguồn gốc một lô hàng, kiểm tra quá trình sản xuất và đối soát thông tin sẽ thuận lợi hơn, đồng thời góp phần nâng cao trách nhiệm của các chủ thể trong chuỗi.

Một trong những nhiệm vụ được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định trong giai đoạn tới là hoàn thiện truy xuất nguồn gốc sầu riêng theo chuỗi. Ảnh: PV
Trên cơ sở kết quả triển khai đối với sầu riêng, Bộ sẽ lựa chọn các sản phẩm chủ lực để tiếp tục mở rộng. Cùng với đó là tăng cường kết nối liên ngành, liên thông quốc gia; phối hợp với Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ và các cơ quan liên quan về định danh, xác thực, tiêu chuẩn, chuẩn dữ liệu, an toàn thông tin và chia sẻ dữ liệu.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng cho biết, Bộ cũng sẽ tiếp tục rà soát các dự án đầu tư, nhiệm vụ khoa học và công nghệ liên quan đến truy xuất nguồn gốc nông sản, bảo đảm việc đầu tư được thực hiện đúng quy định và tránh chồng chéo.
Ngoài ra, Bộ đã thống nhất kế hoạch kết nối Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản với nền tảng quốc gia do C12, Bộ Công an xây dựng và sẵn sàng thực hiện kết nối khi nền tảng này được công bố chính thức. Đây là bước tiếp theo hướng tới hình thành hệ sinh thái dữ liệu liên thông, trong đó thông tin về sản phẩm, cơ sở sản xuất và các chủ thể tham gia chuỗi có thể được xác thực và chia sẻ theo quy định.

Thúc đẩy kết nối, liên thông các nền tảng, hệ thống truy xuất nguồn gốc và cơ sở dữ liệu có liên quan. Ảnh: PV
Từ yêu cầu thực tiễn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tiếp tục thúc đẩy kết nối, liên thông các nền tảng, hệ thống truy xuất nguồn gốc và cơ sở dữ liệu có liên quan. Trọng tâm là thống nhất kiến trúc, tiêu chuẩn, chuẩn dữ liệu, định danh, xác thực và phương thức chia sẻ dữ liệu, phục vụ cả công tác quản lý nhà nước và nhu cầu truy xuất nguồn gốc hàng hóa. Đồng thời, các cơ quan cần rà soát, chuẩn hóa, kết nối và chia sẻ dữ liệu thuộc phạm vi quản lý để phục vụ truy xuất nguồn gốc, ưu tiên dữ liệu gốc và dữ liệu chuyên ngành phục vụ xác thực, đối soát.
Việc hình thành và vận hành hiệu quả Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản vì vậy sẽ là quá trình lâu dài, đòi hỏi sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và người sản xuất. Trong đó, chuẩn hóa dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin và khai thác hiệu quả các hệ thống đã có sẽ là những yếu tố quyết định để xây dựng nền tảng truy xuất nguồn gốc thống nhất, thực chất và có khả năng phục vụ cả thị trường trong nước và xuất khẩu.
