Đẩy nhanh thời gian cấp mã số vùng trồng, tạo thuận lợi cho xuất khẩu nông sản

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang đề xuất đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường quản lý bằng dữ liệu số và rút ngắn thời gian cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Theo đó, sầu riêng tiêu thụ trong nước xuống 3 ngày, còn cấp mã số vùng trồng xuất khẩu được giải quyết không quá 10 ngày làm việc. Việc cải cách nhằm giảm chi phí tuân thủ cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật và các yêu cầu kỹ thuật của thị trường nhập khẩu.

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp chủ trì hội nghị để lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị quyết của Chính phủ quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Ảnh: C.T

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp chủ trì hội nghị để lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị quyết của Chính phủ quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Ảnh: C.T

Chiều 13/7/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội nghị trực tiếp kết hợp trực tuyến với gần 300 điểm cầu trên cả nước để lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị quyết của Chính phủ quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói.

Hội nghị do Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp chủ trì, với sự tham dự của đại diện các cơ quan chuyên môn, địa phương cùng nhiều tổ chức, đơn vị liên quan.

Dự thảo Nghị quyết được xây dựng nhằm tháo gỡ ngay những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Nghị định số 38/2026/NĐ-CP của Chính phủ về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Đây được xác định là giải pháp chuyển tiếp trong thời gian chờ sửa đổi toàn diện Nghị định số 38/2026/NĐ-CP theo trình tự, thủ tục rút gọn.

Chuyển từ tiền kiểm đại trà sang quản lý bằng dữ liệu và hậu kiểm

Thời gian chờ cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đang là vấn đề được nhiều địa phương, người sản xuất và doanh nghiệp đặc biệt quan tâm, nhất là khi nông sản bước vào thời kỳ thu hoạch.

Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật, thủ tục kéo dài không chỉ làm tăng chi phí mà còn có thể khiến doanh nghiệp bỏ lỡ thời điểm thuận lợi để thu mua, chế biến và xuất khẩu nông sản.

Trình bày tại hội nghị, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Huỳnh Tấn Đạt cho biết dự thảo Nghị quyết được xây dựng theo hướng thay đổi phương thức quản lý. Thay vì áp dụng quy trình “xin, kiểm tra, cấp” với nhiều thành phần hồ sơ và nhiều khâu xác minh trước khi cấp mã số, cơ chế mới hướng đến đơn giản hóa thủ tục, tăng trách nhiệm kê khai của tổ chức, cá nhân và đẩy mạnh hậu kiểm sau khi mã số được cấp.

Theo phương án đề xuất, hồ sơ đề nghị cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói sẽ được rút gọn, chủ yếu còn đơn đề nghị theo mẫu. Người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp có thể nộp hồ sơ trực tuyến thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Trong thời hạn tối đa 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan được UBND cấp tỉnh giao nhiệm vụ phải thông báo cấp mã số. Trường hợp từ chối, cơ quan giải quyết hồ sơ phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Đối với trường hợp chỉ thay đổi người đại diện, thay đổi địa giới hành chính hoặc bổ sung thị trường xuất khẩu, thời gian giải quyết dự kiến được rút xuống còn 2 ngày làm việc. Việc tinh gọn hồ sơ và rút ngắn thời gian xử lý được kỳ vọng sẽ giảm đáng kể chi phí tuân thủ cho người sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp.

Dự thảo cũng xác định nguyên tắc không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính mới, đồng thời phải bảo đảm tính công khai, minh bạch, khả thi và phù hợp với điều kiện sản xuất tại các địa phương.

Cùng với đơn giản hóa thủ tục, toàn bộ dữ liệu về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói dự kiến được quản lý tập trung trên hệ thống xử lý nghiệp vụ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đồng thời được công khai trên cổng thông tin điện tử của Bộ.

Hệ thống quản lý mã số sẽ được kết nối với cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc nông sản, cơ sở dữ liệu đất đai và các hệ thống dữ liệu liên quan. Thông qua nền tảng dữ liệu thống nhất, cơ quan quản lý có thể theo dõi tình trạng hoạt động của vùng trồng, cơ sở đóng gói và truy xuất thông tin khi cần thiết, thay vì chủ yếu phụ thuộc vào những đợt kiểm tra trước khi cấp mã.

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp khảo sát vùng trồng tại Đắk Lắk. Ảnh: P.H

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp khảo sát vùng trồng tại Đắk Lắk. Ảnh: P.H

Hai phương án cấp mã số vùng trồng

Trước khi thống nhất phương án trình Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã đưa ra hai cách tiếp cận trong việc cấp mã số vùng trồng. Sự khác biệt chủ yếu nằm ở việc có bắt buộc gắn mã số vùng trồng với mã định danh đất đai ngay từ thời điểm cấp mã hay không.

Theo phương án thứ nhất, mã số vùng trồng được cấp theo vị trí thửa đất và được xác định trên cơ sở mã định danh đất đai. Những hộ dân, tổ chức đã có thông tin trong cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia có thể sử dụng dữ liệu này để đăng ký cấp mã.

Đối với khu vực chưa có dữ liệu định danh đất đai, UBND cấp xã phải xác nhận vị trí, diện tích vùng sản xuất và bổ sung thông tin trước khi thực hiện thủ tục cấp mã số vùng trồng.

Tuy nhiên, đại diện ngành nông nghiệp và môi trường của nhiều địa phương như Lâm Đồng, Gia Lai, Sơn La cho rằng phương án này khó triển khai ngay trong thực tế. Hiện cả nước vẫn còn gần 30 triệu thửa đất chưa được chuẩn hóa dữ liệu, trong đó phần lớn là đất nông nghiệp.

Nếu yêu cầu người dân và doanh nghiệp phải hoàn thiện dữ liệu đất đai trước khi đăng ký cấp mã số vùng trồng, tiến độ giải quyết hồ sơ có thể bị kéo dài, không phù hợp với mục tiêu tháo gỡ khó khăn trước mắt cho sản xuất và xuất khẩu.

Vấn đề càng trở nên cấp thiết khi vụ thu hoạch sầu riêng tại khu vực Tây Nguyên dự kiến bắt đầu trong khoảng một đến hai tháng tới. Việc chậm cấp mã số vùng trồng hoặc mã số cơ sở đóng gói có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thu mua và xuất khẩu mặt hàng này.

Vì vậy, đa số địa phương thống nhất lựa chọn phương án thứ hai. Theo đó, mã số vùng trồng vẫn được cấp theo vị trí thửa đất nhưng trước mắt chưa bắt buộc phải gắn ngay với mã định danh đất đai.

Thông tin kê khai của người dân, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp sẽ được sử dụng làm cơ sở giải quyết hồ sơ. Trường hợp vùng trồng chưa có trong cơ sở dữ liệu định danh đất đai, UBND cấp xã sẽ xác nhận vị trí và diện tích sản xuất.

Việc xác nhận của UBND cấp xã không được xem là bổ sung thêm thủ tục hành chính mà nhằm bảo đảm mỗi mã số vùng trồng đều gắn với một vị trí sản xuất cụ thể, hạn chế tình trạng sai lệch thông tin, cấp trùng mã hoặc khó truy xuất khi xảy ra vi phạm.

Về lâu dài, mã số vùng trồng vẫn sẽ được cấp và quản lý trên cơ sở dữ liệu định danh đất đai nhằm bảo đảm tính đồng bộ và thống nhất trên phạm vi cả nước. Các địa phương cũng đề nghị quy định rõ trách nhiệm của chính quyền cấp xã, cơ quan chuyên môn và người kê khai trong việc xác nhận, cập nhật và quản lý thông tin.

Theo lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đơn giản hóa thủ tục không đồng nghĩa với nới lỏng quản lý hoặc hạ thấp tiêu chuẩn đối với nông sản xuất khẩu.

Theo lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đơn giản hóa thủ tục không đồng nghĩa với nới lỏng quản lý hoặc hạ thấp tiêu chuẩn đối với nông sản xuất khẩu.

Rút thời gian cấp mã nhưng không hạ tiêu chuẩn xuất khẩu

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh, việc đổi mới công tác cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói không chỉ phục vụ xuất khẩu mà còn hướng đến quản lý sản xuất, truy xuất nguồn gốc và bảo đảm an toàn thực phẩm đối với nông sản tiêu thụ trong nước.

Đối với vùng trồng và cơ sở đóng gói phục vụ thị trường trong nước, thủ tục dự kiến được đơn giản hóa tối đa. Thời gian cấp mã số được rút xuống còn tối đa 3 ngày làm việc sau khi cơ quan chức năng nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Các trường hợp phục vụ thị trường trong nước sẽ chuyển trọng tâm sang hậu kiểm. Cơ quan quản lý thực hiện kiểm tra sau khi mã số được cấp, qua đó giảm thời gian chờ đợi và tạo điều kiện để người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp sớm đưa sản phẩm ra thị trường.

Tuy nhiên, đối với vùng trồng và cơ sở đóng gói đăng ký phục vụ xuất khẩu, việc kiểm tra trước khi gửi mã số sang nước nhập khẩu vẫn được duy trì. Tổ chức, cá nhân phải thông báo bằng văn bản về thị trường dự kiến xuất khẩu để cơ quan chuyên môn đánh giá khả năng đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật tương ứng.

Thời gian giải quyết đối với hồ sơ phục vụ xuất khẩu dự kiến không quá 10 ngày làm việc. Khoảng thời gian này được dành cho việc kiểm tra, đánh giá các điều kiện về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật và những yêu cầu riêng của từng quốc gia nhập khẩu.

Theo lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đơn giản hóa thủ tục không đồng nghĩa với nới lỏng quản lý hoặc hạ thấp tiêu chuẩn đối với nông sản xuất khẩu.

Nếu một vùng trồng không đáp ứng tiêu chuẩn nhưng vẫn được đưa vào danh sách gửi sang nước nhập khẩu và sau đó bị từ chối, tác động không chỉ dừng lại ở doanh nghiệp hoặc địa phương có liên quan mà còn có thể ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu và khả năng duy trì thị trường của cả ngành hàng.

Do đó, việc duy trì tiền kiểm trong thời hạn tối đa 10 ngày đối với mã số phục vụ xuất khẩu là cần thiết để hạn chế rủi ro và bảo vệ hình ảnh nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng yêu cầu cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn thiện quy định về hậu kiểm, trong đó phải xác định cụ thể biểu mẫu, biên bản, nội dung và phương thức kiểm tra để các địa phương có thể triển khai thống nhất.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường khuyến khích tổ chức, cá nhân, hợp tác xã, tổ hợp tác liên kết sản xuất hình thành vùng nguyên liệu tập trung để cấp mã số vùng trồng quy mô lớn.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường khuyến khích tổ chức, cá nhân, hợp tác xã, tổ hợp tác liên kết sản xuất hình thành vùng nguyên liệu tập trung để cấp mã số vùng trồng quy mô lớn.

Khuyến khích xây dựng vùng nguyên liệu tập trung

Lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các địa phương, đặc biệt là chính quyền cấp xã, chủ động hướng dẫn người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp kê khai, đăng ký mã số vùng trồng từ sớm, tránh tình trạng chỉ thực hiện thủ tục khi nông sản đã đến kỳ thu hoạch.

Bộ cũng khuyến khích các tổ chức, cá nhân, hợp tác xã và tổ hợp tác tăng cường liên kết sản xuất, hình thành vùng nguyên liệu tập trung có quy mô đủ lớn, thay vì đăng ký nhiều mã số cho những diện tích nhỏ, phân tán.

Việc hình thành vùng nguyên liệu tập trung không chỉ giúp cơ quan chức năng thuận lợi hơn trong quản lý, kiểm tra và truy xuất nguồn gốc mà còn giúp giảm chi phí tuân thủ, xây dựng thương hiệu vùng sản xuất và nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, nếu mỗi mã số vùng trồng chỉ gắn với diện tích nhỏ, phân tán thì rất khó hình thành vùng nguyên liệu có sức cạnh tranh. Ngược lại, vùng sản xuất tập trung quy mô lớn sẽ tạo thuận lợi cho việc áp dụng đồng bộ quy trình kỹ thuật, giám sát chất lượng và tổ chức tiêu thụ sản phẩm.

Thứ trưởng cũng đề nghị Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tham mưu lãnh đạo Bộ ban hành văn bản gửi UBND các tỉnh, thành phố để phối hợp triển khai một chiến dịch xây dựng và chuẩn hóa cơ sở dữ liệu mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

Chiến dịch này có thể được triển khai tương tự quá trình xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, nhằm hoàn thiện thông tin trong thời gian ngắn và tạo nền tảng phục vụ quản lý lâu dài.

Các địa phương được yêu cầu khẩn trương rà soát, cập nhật và chuẩn hóa thông tin về vùng trồng, cơ sở đóng gói; xác định rõ tình trạng hoạt động của từng mã số; tăng cường kiểm tra, giám sát và kịp thời xử lý các trường hợp sử dụng mã sai mục đích, mượn mã, cho thuê mã hoặc gian lận mã số.

Thúc đẩy Trung Quốc công nhận các mã số đã đăng ký

Đối với thị trường Trung Quốc, hiện Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật định kỳ ba tháng một lần tổng hợp và chuyển danh sách các mã số đăng ký cấp mới sang cơ quan chức năng nước này.

Theo đánh giá của lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thời gian tổng hợp theo chu kỳ ba tháng còn dài so với thực tế sản xuất và mùa vụ của nhiều mặt hàng nông sản. Việc chờ đợi có thể khiến những vùng trồng đã đáp ứng điều kiện nhưng chưa được phía nhập khẩu công nhận kịp thời không thể tham gia xuất khẩu.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết sẽ chủ động làm việc với phía Trung Quốc nhằm thúc đẩy việc xem xét, công nhận các mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói Việt Nam đã gửi trước đó.

Hai bên cũng dự kiến trao đổi để điều chỉnh quy trình tiếp nhận thông tin theo hướng phù hợp hơn với mùa vụ, đồng thời tăng cường quản lý bằng truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật, thay vì phụ thuộc vào quy trình phê duyệt kéo dài.

Dự thảo Nghị quyết cũng sẽ quy định rõ trách nhiệm của cơ quan chuyên môn trong việc tổng hợp và chuyển danh sách mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đến cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu, bảo đảm thống nhất đầu mối và đáp ứng yêu cầu của từng thị trường.

Việc bảo đảm năng lực kiểm nghiệm được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm tránh tình trạng nông sản, đặc biệt là sầu riêng, đến kỳ thu hoạch nhưng bị ùn ứ hoặc không thể xuất khẩu do chậm cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói hoặc thiếu năng lực xét nghiệm.

Việc bảo đảm năng lực kiểm nghiệm được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm tránh tình trạng nông sản, đặc biệt là sầu riêng, đến kỳ thu hoạch nhưng bị ùn ứ hoặc không thể xuất khẩu do chậm cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói hoặc thiếu năng lực xét nghiệm.

Bảo đảm năng lực kiểm nghiệm sầu riêng xuất khẩu

Liên quan đến năng lực kiểm nghiệm sầu riêng phục vụ xuất khẩu, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết các phòng kiểm nghiệm tại địa phương hiện cơ bản đáp ứng được yêu cầu.

Đối với Đắk Lắk, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã làm việc với địa phương để rà soát, tính toán khả năng kiểm nghiệm trong thời điểm sầu riêng bước vào chính vụ. Trong trường hợp cần thiết, Bộ sẽ chỉ đạo bảy đơn vị kiểm nghiệm trực thuộc tham gia hỗ trợ địa phương.

Việc bảo đảm năng lực kiểm nghiệm được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm tránh tình trạng nông sản, đặc biệt là sầu riêng, đến kỳ thu hoạch nhưng bị ùn ứ hoặc không thể xuất khẩu do chậm cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói hoặc thiếu năng lực xét nghiệm.

Trước đó, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu các bộ, ngành và địa phương không để nông sản của người dân đến kỳ thu hoạch nhưng không thể xuất khẩu do sự chậm trễ trong quá trình cấp mã số, công nhận cơ sở đóng gói và tổ chức kiểm nghiệm.

Sau hội nghị, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp thu ý kiến của các địa phương, cơ quan chuyên môn và đơn vị liên quan để hoàn thiện dự thảo Nghị quyết; đồng thời lấy ý kiến các bộ, ngành trước khi trình Chính phủ xem xét ban hành.

Việc sớm tháo gỡ những vướng mắc trong cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu nông sản; nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu và tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.

Đây cũng là một trong những giải pháp góp phần thực hiện mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt khoảng 74 tỷ USD trong năm 2026.

Phạm Thông

[email protected]

Nguồn Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam: https://nongnghiephuuco.vn/day-nhanh-thoi-gian-cap-ma-so-vung-trong-tao-thuan-loi-cho-xuat-khau-nong-san-15887.html