ĐBQH tỉnh Nghệ An đề nghị hoàn thiện quy định về đầu tư, môi trường và quản lý không gian biển
Góp ý các dự án luật về đầu tư, tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, bảo vệ môi trường, Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An đề nghị làm rõ thẩm quyền, tiêu chí lựa chọn đối tượng thụ hưởng, cơ chế thu hồi ưu đãi và trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan.

Quốc hội làm việc tại hội trường để nghe trình bày tờ trình và báo cáo thẩm tra các dự án luật. Ảnh: Viết Chung
Sáng 24/10, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Quốc hội nghe trình bày tờ trình và báo cáo thẩm tra các dự án luật.
Sau đó, Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An và Đồng Tháp thảo luận tại tổ. Đồng chí Nguyễn Khắc Thận - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An điều hành phiên thảo luận.

Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An và Đồng Tháp thảo luận tại tổ. Ảnh: Việt Anh
Làm rõ tiêu chí giao, cho thuê và sử dụng không gian biển
Góp ý dự thảo Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo (sửa đổi), đại biểu Thái Thị An Chung đề nghị tiếp tục hoàn thiện quy định về giao, cho thuê và sử dụng khu vực biển theo hướng minh bạch, công bằng, khả thi. Với Điều 24, đại biểu đề nghị chuyển các nội dung tại Điểm a, b, c, Khoản 1 sang Điều 3 về giải thích từ ngữ.
Đại biểu băn khoăn về Khoản 7, Điều 24, quy định trường hợp khu vực biển không thuộc diện đấu giá quyền sử dụng hoặc đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư, nếu có từ hai hồ sơ trở lên thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết hồ sơ hợp lệ được nộp trước.

Đồng chí Nguyễn Khắc Thận - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An điều hành phiên thảo luận. Ảnh: Việt Anh
Thay vì chỉ dựa vào thời điểm tiếp nhận, đại biểu Thái Thị An Chung đề nghị xây dựng tiêu chí ưu tiên như mục đích sử dụng và hiệu quả khai thác. Về Điều 47, quy định chính sách hỗ trợ cộng đồng dân cư ven biển phát triển hoạt động kinh tế sử dụng không gian biển, đại biểu cho rằng cần xác định rõ đối tượng thụ hưởng.
Đại biểu Thái Thị An Chung cũng đề nghị làm rõ quan hệ giữa cộng đồng dân cư với tổ chức kinh tế, xác định cộng đồng là chủ sở hữu, bên nắm vốn, đơn vị quản lý hay nhóm thụ hưởng; đồng thời thống nhất thuật ngữ về cộng đồng bị ảnh hưởng và nhóm dễ bị tổn thương, tránh trùng lặp chính sách.

Đại biểu Thái Thị An Chung - Phó Trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh phát biểu thảo luận. Ảnh: Việt Anh
Đối với lộ trình điều chỉnh, chuyển đổi công năng hoặc di dời công trình hiện hữu tại vùng bờ, đại biểu lưu ý các Điều 51 và 52 đã giao UBND cấp tỉnh rà soát, phân loại, xử lý công trình không còn phù hợp quy hoạch hoặc nằm trong khu vực có nguy cơ sạt lở.
Vì vậy, cần quy định mốc thời gian cụ thể để địa phương xây dựng phương án, đồng thời giúp tổ chức, cá nhân chủ động chuẩn bị.
Gắn phát triển kinh tế biển với quốc phòng, an ninh
Đại biểu Nguyễn Sỹ Hội nhấn mạnh việc quản lý, sử dụng không gian biển phải đặt trong tổng thể yêu cầu phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Đại biểu đề nghị làm rõ trách nhiệm của Chính phủ và xây dựng cơ chế điều phối quốc gia; quy hoạch cần tính đến nhiệm vụ quân sự, diễn tập, công trình phòng thủ và khả năng sử dụng công trình lưỡng dụng. Cùng quan tâm, đại biểu Lương Đình Hưng đề nghị thống nhất cơ chế phối hợp và lấy ý kiến Bộ Quốc phòng cùng các cơ quan liên quan.

Đại biểu Nguyễn Sỹ Hội - Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh phát biểu thảo luận. Ảnh: Việt Anh
Đại biểu Nguyễn Sỹ Hội đề nghị đối chiếu dự thảo với Luật Biển Việt Nam, Luật Quốc phòng, Luật Biên phòng Việt Nam, Luật Cảnh sát biển Việt Nam, Luật Đầu tư, Luật Quy hoạch và pháp luật môi trường để hạn chế chồng chéo.
Làm rõ thẩm quyền nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường
Đại biểu Hoàng Minh Hiếu cho rằng, việc Luật Đầu tư liên tục sửa đổi cho thấy cần tăng tính ổn định, tập trung vào định hướng và chính sách khuyến khích thay vì quy định quá chi tiết những nội dung thường xuyên thay đổi.
Về thẩm quyền nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường, đại biểu nêu những vấn đề cần cân nhắc. Việc cho phép Chính phủ quyết định nới lỏng điều kiện được quy định trong luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần có căn cứ chặt chẽ.

Đại biểu Hoàng Minh Hiếu - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội phát biểu thảo luận. Ảnh: Việt Anh
Tiêu chí “điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước” còn rộng, trong khi chính sách thu hút đầu tư nước ngoài có thể liên quan đến an ninh kinh tế và lợi ích quốc gia.
Vì vậy, việc cho phép Chính phủ điều chỉnh điều kiện được quy định ở văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn cần có căn cứ, giới hạn và cơ chế giám sát rõ ràng.
Đại biểu Hoàng Minh Hiếu cũng lưu ý cơ chế nới lỏng phải phù hợp pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật và thận trọng với cam kết quốc tế, bởi việc khôi phục điều kiện cũ có thể gặp hạn chế.
Đại biểu Trần Nhật Minh cho rằng, tiêu chí để Chính phủ quyết định nới lỏng điều kiện còn chung chung, chưa xác định rõ trường hợp và điều kiện áp dụng.

Đại biểu Quốc hội chuyên trách Trần Nhật Minh phát biểu thảo luận. Ảnh: Việt Anh
Dự thảo yêu cầu Chính phủ báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi ban hành quyết định, nhưng chưa làm rõ cách xử lý nếu cơ quan này không đồng tình. Đại biểu đề nghị xác định rõ căn cứ pháp lý, thẩm quyền, quy trình và phương án xử lý khi có ý kiến khác nhau giữa các cơ quan.
Minh bạch chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
Cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt và chính sách hỗ trợ từ ngân sách địa phương cũng được nhiều đại biểu đề nghị hoàn thiện. Đại biểu Trần Nhật Minh đồng tình với việc cho phép cơ quan có thẩm quyền thu hồi ưu đãi, hỗ trợ nếu nhà đầu tư không đáp ứng tiêu chí, điều kiện hoặc không thực hiện đầy đủ cam kết. Tuy nhiên, dự thảo cần làm rõ nhà đầu tư có phải hoàn trả khoản đã được hưởng hay không và cách xử lý khi vi phạm cam kết.
Với cơ chế đặc thù thu hút đầu tư của địa phương, đại biểu đề nghị giao UBND cấp tỉnh quyết định quy trình, thủ tục hỗ trợ, thay vì đồng thời quy định thẩm quyền của HĐND và UBND.

Đại biểu Vũ Thị Lan Anh - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội phát biểu thảo luận. Ảnh: Việt Anh
Đại biểu Vũ Thị Lan Anh đề nghị làm rõ quan hệ giữa chính sách hỗ trợ đầu tư tại Điều 17 và Điều 18, tránh việc cùng một khoản chi phí được hỗ trợ trùng lặp từ ngân sách Trung ương và địa phương.
Với chính sách hỗ trợ đào tạo lao động trong và ngoài nước bằng ngân sách địa phương, luật cần quy định nguyên tắc chung về đối tượng, nhu cầu sử dụng lao động, khả năng cân đối ngân sách, công khai, minh bạch và không trùng lặp; trên cơ sở đó, HĐND cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ phù hợp thực tế.
Đối với chính sách khấu hao nhanh tài sản hình thành từ dự án khu công nghiệp sinh thái, đại biểu đề nghị xác định rõ tiêu chí và đối tượng áp dụng, bảo đảm phù hợp quy định về trích khấu hao tài sản cố định. Khái niệm “dự án chiến lược” trong xúc tiến đầu tư cũng cần được làm rõ bằng tiêu chí cụ thể, thống nhất và dễ áp dụng.
Đại biểu Trần Nhật Minh đề nghị xác định tiêu chí lựa chọn dự án chiến lược, trách nhiệm công khai thông tin và cơ chế theo dõi hỗ trợ. Cần đánh giá mức độ hoàn thành cam kết của nhà đầu tư, giám sát hiệu quả sử dụng ngân sách, phát hiện việc áp dụng sai đối tượng và bảo đảm doanh nghiệp tiếp cận chính sách theo tiêu chí thống nhất, minh bạch, công bằng hơn.
Tăng cường hậu kiểm, bảo vệ dữ liệu môi trường
Đại biểu Lương Đình Hưng nhất trí với hướng phân định thẩm quyền dựa trên mức độ nguy cơ gây tác động xấu đến môi trường, yếu tố bí mật nhà nước về quốc phòng, an ninh và địa bàn hoạt động.
Tuy nhiên, đại biểu đề nghị nghị định hướng dẫn giao Bộ Quốc phòng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, cấp hoặc điều chỉnh giấy phép môi trường đối với dự án, cơ sở thuộc bí mật nhà nước về quốc phòng.

Đại biểu Lương Đình Hưng - Phó Tư lệnh Pháp luật Cảnh sát biển Việt Nam phát biểu thảo luận. Ảnh: Việt Anh
Về đăng ký môi trường, dự thảo có quy định mới đối với dự án, cơ sở thuộc bí mật nhà nước về quốc phòng, an ninh, nhưng chưa xác định rõ cơ quan và hình thức tiếp nhận hồ sơ.
Đại biểu Lương Đình Hưng đề nghị làm rõ cơ quan tiếp nhận, trình tự và hình thức phù hợp với chế độ bảo vệ bí mật nhà nước; đồng thời giao Bộ Quốc phòng tiếp nhận đăng ký môi trường đối với các dự án, cơ sở thuộc bí mật nhà nước về quốc phòng theo quy định hướng dẫn. Quy định chuyển tiếp cũng cần đủ rõ để cơ sở đang hoạt động biết thời hạn và cách thức hoàn thành nghĩa vụ.
Đại biểu đề nghị bổ sung yêu cầu tuân thủ pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước khi chuyển đổi số, kết nối và chia sẻ dữ liệu môi trường, tránh xung đột giữa nghĩa vụ cập nhật thông tin với yêu cầu bảo mật.
Trong khi đó, đại biểu Vũ Thị Lan Anh nhấn mạnh cần xây dựng cơ chế hậu kiểm với tiêu chí rõ ràng, nhất là đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh có nguồn phát thải lớn hoặc nằm trong khu dân cư.
