Đề án một triệu ha lúa: Thành tựu, hạn chế và giải pháp phát triển
Sau hai năm triển khai, Đề án một triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp đạt nhiều kết quả tích cực, song vẫn còn những hạn chế cần tháo gỡ và giải pháp phát triển hướng đến một triệu ha năm lúa 2030.

Thứ Trưởng Bộ Nông nghiệp & Môi trường Trần Thanh Nam - Ảnh: C.K
Phóng viên Một Thế Giới đã trao đổi với Thứ Trưởng Bộ Nông nghiệp & Môi trường (NN&MT) Trần Thanh Nam chung quanh thành tựu, hạn chế và giải pháp cho tương lai.
- Thưa Thứ trưởng, sau hơn hai năm triển khai, Đề án phát triển bền vững một triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã đạt được những kết quả nổi bật nào?
- Thứ trưởng Trần Thanh Nam: Sau hơn hai năm triển khai, Đề án phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030 đã đạt được nhiều kết quả quan trọng bước đầu. Điều đáng mừng là Đề án đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Chính phủ, sự phối hợp của các bộ, ngành, địa phương và đặc biệt là sự hưởng ứng của bà con nông dân, doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX).
Trước hết, diện tích canh tác theo định hướng của Đề án đã tăng nhanh. Đến nay, diện tích vùng chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp đã đạt hơn 354.800ha, vượt 197% mục tiêu ban đầu đặt ra cho giai đoạn thí điểm. Điều này cho thấy các địa phương và người dân đã bước đầu tin tưởng vào hướng đi của Đề án.

Những loại lúa, gạo mới chất lượng cao ở Viện lúa ĐBSCL - Ảnh: V.K.K
Một kết quả rất quan trọng khác là sự thay đổi về tư duy sản xuất của người nông dân. Nếu trước đây sản xuất lúa chủ yếu chú trọng năng suất, thì nay bà con đã quan tâm nhiều hơn đến chất lượng, hiệu quả kinh tế và yếu tố môi trường. Các quy trình canh tác bền vững như giảm lượng giống gieo sạ, quản lý nước tưới theo phương pháp ngập – khô xen kẽ, sử dụng phân bón hợp lý, xử lý rơm rạ sau thu hoạch… được áp dụng ngày càng rộng rãi.
Thực tế tại các mô hình thí điểm cho thấy hiệu quả rất rõ rệt. Lượng giống gieo sạ giảm khoảng 45%, phân bón giảm 30%, số lần phun thuốc bảo vệ thực vật giảm 2–3 lần mỗi vụ. Lượng nước tưới cũng giảm khoảng 20% nhờ áp dụng các phương pháp quản lý nước hợp lý.
Đặc biệt, năng suất lúa vẫn tăng khoảng 12%, trong khi chi phí đầu vào giảm gần 40%, giúp lợi nhuận của nông dân tăng trung bình khoảng 6 triệu đồng/ha/vụ. Đồng thời, sản xuất theo quy trình của Đề án còn giúp giảm phát thải khoảng 3–4 tấn CO₂/ha/vụ, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển nông nghiệp xanh và giảm phát thải khí nhà kính.
Bên cạnh đó, liên kết chuỗi giá trị cũng đang từng bước hình thành. Nhiều doanh nghiệp đã tham gia xây dựng vùng nguyên liệu, hợp tác với hợp tác xã và nông dân để tổ chức sản xuất, thu mua và tiêu thụ sản phẩm. Các tổ chức quốc tế cũng quan tâm hỗ trợ thông qua các chương trình kỹ thuật, tài chính và phát triển thị trường. Đây là những nền tảng quan trọng để nâng cao giá trị và thương hiệu gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Ứng dụng khoa học trong nông nghiệp phát triển mạnh - Ảnh: V.K.K
- Bên cạnh những kết quả tích cực, theo Thứ trưởng, việc triển khai Đề án hiện đang gặp phải những hạn chế và thách thức gì?
- Thứ trưởng Trần Thanh Nam: Bên cạnh những kết quả đạt được, chúng ta cũng phải nhìn nhận một cách thẳng thắn rằng việc triển khai Đề án vẫn còn không ít khó khăn và hạn chế.
Trước hết, tiến độ triển khai ở một số địa phương còn chậm. Một số tỉnh còn lúng túng trong việc tổ chức thực hiện, chưa xây dựng được kế hoạch cụ thể hoặc chưa huy động được sự tham gia mạnh mẽ của doanh nghiệp và HTX.
Thứ hai, hạ tầng phục vụ sản xuất lúa vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là hệ thống thủy lợi nội đồng. Trong khi đó, việc áp dụng các quy trình canh tác giảm phát thải đòi hỏi phải quản lý nước chặt chẽ và đồng bộ. Nếu hạ tầng thủy lợi không đáp ứng thì việc triển khai các giải pháp kỹ thuật sẽ gặp nhiều khó khăn.
Một hạn chế khác là liên kết sản xuất tuy đã hình thành nhưng vẫn còn yếu. Nhiều nơi sản xuất vẫn mang tính nhỏ lẻ, chưa hình thành được các vùng nguyên liệu lớn có sự tham gia ổn định của doanh nghiệp. Điều này ảnh hưởng đến việc tiêu thụ sản phẩm cũng như xây dựng thương hiệu gạo chất lượng cao.
Ngoài ra, nhận thức của một bộ phận nông dân ở các vùng tham gia Đề án vẫn chưa thực sự đầy đủ. Một số nơi vẫn còn tâm lý trông chờ vào hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động tham gia chuyển đổi phương thức sản xuất.
Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính cho Đề án vẫn còn hạn chế. Các dự án sử dụng vốn từ các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB) hay Quỹ Tài chính carbon chuyển đổi (TCAF) vẫn đang trong quá trình chuẩn bị nên tiến độ giải ngân còn chậm. Điều này ảnh hưởng đến việc đầu tư hạ tầng, hỗ trợ kỹ thuật và mở rộng các mô hình sản xuất.
Những hạn chế này nếu không sớm được tháo gỡ sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu mở rộng diện tích và nâng cao hiệu quả của Đề án trong thời gian tới.

Lúa chất lượng cao ở Viện lúa ĐBSCL - Ảnh: V.K.K
- Đề án một triệu ha lúa phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn trong thời gian tới, Bộ NN&MT sẽ tập trung vào những giải pháp nào?
- Thứ trưởng Trần Thanh Nam: Trong thời gian tới, Bộ NN&MT sẽ phối hợp với các địa phương và các bên liên quan triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để thúc đẩy Đề án phát triển hiệu quả hơn.
Trước hết là nâng cao nhận thức và tạo sự đồng thuận trong toàn hệ thống, từ chính quyền địa phương đến nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Đề án chỉ có thể thành công khi tất cả các chủ thể cùng hiểu rõ mục tiêu và cùng tham gia thực hiện.
Thứ hai là tăng cường vai trò của HTX trong tổ chức sản xuất. HTX cần trở thành trung tâm liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp, từ khâu cung ứng vật tư, tổ chức sản xuất đến thu mua và tiêu thụ sản phẩm. Bộ sẽ tiếp tục hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị và cơ chế hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp.
Thứ ba là đầu tư nâng cấp hạ tầng phục vụ sản xuất, đặc biệt là hệ thống thủy lợi, giao thông nội đồng, kho bãi và logistics. Đây là yếu tố quan trọng để áp dụng các quy trình canh tác giảm phát thải và tổ chức sản xuất quy mô lớn.
Một giải pháp rất quan trọng khác là thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị và phát triển thị trường tiêu thụ gạo chất lượng cao. Bộ sẽ khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư vào vùng nguyên liệu, xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam gắn với các tiêu chuẩn bền vững và phát thải thấp.
Ngoài ra, chúng tôi cũng đang tích cực phối hợp với các tổ chức quốc tế để huy động nguồn lực tài chính cho Đề án, đặc biệt là các chương trình hỗ trợ giảm phát thải và thị trường tín chỉ carbon. Đây sẽ là nguồn lực quan trọng để hỗ trợ nông dân chuyển đổi phương thức sản xuất.
Tôi tin rằng với sự vào cuộc đồng bộ của các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và bà con nông dân, Đề án một triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp sẽ trở thành một mô hình tiêu biểu của nông nghiệp xanh, góp phần nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam và phát triển bền vững vùng ĐBSCL trong tương lai.











