Để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, Việt Nam cần khoảng 40 triệu tỷ đồng vốn đầu tư

Chia sẻ tại Diễn đàn Tài chính 2026 'Khơi thông dòng vốn, kết nối đa kênh' do Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức hôm 20/5, TS Đỗ Thiên Anh Tuấn cho rằng, mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số là một thách thức rất lớn và muốn đạt mục tiêu, Việt Nam phải vừa nâng tỷ trọng vốn đầu tư toàn xã hội từ mức khoảng 32,3% GDP hiện nay lên khoảng 40% GDP, vừa phải cải thiện mạnh hiệu quả sử dụng vốn.

TS Đỗ Thiên Anh Tuấn - Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý, Đại học Fulbright cho rằng, kinh tế Việt Nam năm 2025 tăng trưởng 8,02%, với tổng vốn đầu tư toàn xã hội tương đương 32,3% GDP. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng 10% trong 5 năm tới sẽ tạo ra áp lực rất lớn về vốn đầu tư.

Theo TS Tuấn, mức tăng trưởng khoảng 10% hiện nay mới chỉ được tính theo giá cố định. Nếu cộng thêm mức lạm phát dự kiến khoảng 4,5% mỗi năm thì tăng trưởng theo giá hiện hành thực tế phải đạt gần 15%. Trong khi đó, áp lực lạm phát đang ngày càng gia tăng.

Chỉ trong bốn tháng đầu năm 2026, lạm phát đã tăng khoảng 5,46% so với cùng kỳ. Điều này cho thấy nền kinh tế đang chịu áp lực rất lớn không chỉ từ phía tổng cầu mà còn từ chi phí đầu vào như giá năng lượng, nguyên vật liệu và những căng thẳng địa chính trị trên toàn cầu. Từ các giả định đó, TS Đỗ Thiên Anh Tuấn tính toán rằng Việt Nam cần huy động khoảng 40 triệu tỷ đồng vốn đầu tư trong những năm tới nếu muốn duy trì được mục tiêu tăng trưởng cao.

TS Đỗ Thiên Anh Tuấn

TS Đỗ Thiên Anh Tuấn

Tuy nhiên, theo TS Anh Tuấn, vấn đề lớn nhất không chỉ nằm ở quy mô vốn mà còn nằm ở hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế. Hiện nay, năng suất biên của vốn tại Việt Nam đang có xu hướng suy giảm, nghĩa là nền kinh tế phải bỏ ra ngày càng nhiều vốn hơn để tạo ra thêm một đồng tăng trưởng. Hệ số ICOR của Việt Nam hiện dao động khoảng 5-6, phản ánh hiệu quả sử dụng vốn còn thấp. Theo định hướng của Quốc hội và Chính phủ, trong giai đoạn tới Việt Nam cần kéo hệ số này xuống khoảng 4,5-4,8, thậm chí có mục tiêu đưa về mức 4. Nhưng đây là nhiệm vụ cực kỳ khó khăn. Muốn đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam buộc phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ.

Thứ nhất là nâng tỷ trọng vốn đầu tư toàn xã hội từ khoảng 32,3% GDP hiện nay lên tối thiểu khoảng 40% GDP. Thứ hai là phải cải thiện mạnh hiệu quả sử dụng nguồn vốn.

TS Tuấn phân tích, định hướng của Chính phủ trong khoảng năm năm tới, nền kinh tế cần duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài. Tuy nhiên, khi tỷ trọng đầu tư của khu vực Nhà nước giảm xuống thì phần thiếu hụt đó buộc phải được bù đắp bằng khu vực tư nhân hoặc khu vực FDI. Nhưng hiện nay, việc thu hút FDI đang chịu áp lực rất lớn do cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt. Căng thẳng địa chính trị, xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu và sự cạnh tranh giữa các quốc gia trong khu vực khiến Việt Nam phải đối mặt với áp lực rất lớn trong việc giữ chân và thu hút dòng vốn đầu tư quốc tế. Chỉ cần nhìn vào Singapore hay Indonesia sẽ thấy quy mô thu hút vốn đầu tư của các quốc gia này rất lớn. Điều đó cho thấy Việt Nam đang phải cạnh tranh quyết liệt trong làn sóng dịch chuyển vốn toàn cầu hiện nay. Chính vì vậy, Việt Nam buộc phải dựa nhiều hơn vào khu vực kinh tế tư nhân. Điều này hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị, trong đó xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế.

Toàn cảnh Diễn đàn

Toàn cảnh Diễn đàn

Hiện nay, khu vực đầu tư tư nhân chiếm khoảng 54% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ này lên khoảng 60%. Nếu xét về đóng góp GDP thì khu vực kinh tế tư nhân hiện cũng đang đóng góp khoảng 56% GDP và định hướng là tăng lên khoảng 60% trong thời gian tới. Điều đó có nghĩa là vai trò của khu vực tư nhân trong đầu tư cũng phải tăng tương ứng.

Theo TS Đỗ Thiên Anh Tuấn, đây chính là bài toán quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới: Làm thế nào để huy động mạnh hơn nguồn lực từ khu vực kinh tế tư nhân. Trong cơ cấu vốn đầu tư hiện nay, đầu tư công đang chiếm khoảng 27–27,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tương đương hơn một triệu tỷ đồng. Nguồn chủ yếu vẫn đến từ ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất là ngân sách nhà nước sẽ lấy nguồn từ đâu. Nếu muốn tăng đầu tư công từ ngân sách thì Nhà nước buộc phải tăng thuế và phí. Nhưng điều này lại đi ngược với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng, bởi muốn khuyến khích doanh nghiệp mở rộng đầu tư và sản xuất kinh doanh thì cần phải giảm bớt gánh nặng thuế phí. Đây chính là mâu thuẫn rất khó giải quyết. Một mặt cần tăng nguồn lực cho đầu tư công, nhưng mặt khác lại phải giảm chi phí cho doanh nghiệp để thúc đẩy tăng trưởng. Ngoài nguồn thu từ ngân sách, Nhà nước còn có thể huy động vốn thông qua tín dụng nhà nước và trái phiếu Chính phủ bảo lãnh. Hiện nay, hai định chế lớn thực hiện vai trò này là Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

Tuy nhiên, trong những năm vừa qua, lượng trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh phát hành vẫn còn rất hạn chế, nên chưa phát huy được vai trò của các định chế tài chính phát triển của Nhà nước. Ngoài ra, phần vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước hiện cũng rất nhỏ, chỉ khoảng 2%. Phần lớn doanh nghiệp nhà nước vẫn phải đi vay để đầu tư và phần vay này được tính vào tín dụng chứ không phải vốn đầu tư trực tiếp của khu vực Nhà nước. Trong khi đó, khu vực FDI hiện chiếm khoảng 16% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tỷ lệ này nhiều năm qua gần như không tăng thêm. Năm vừa rồi, tổng vốn FDI đăng ký đạt khoảng 38 tỷ USD nhưng vốn giải ngân thực tế chỉ khoảng 21 tỷ USD. Đây đã là mức rất lớn đối với Việt Nam nhưng cũng cho thấy việc mở rộng hơn nữa là vô cùng khó khăn.

Theo TS Đỗ Thiên Anh Tuấn, hiện nay một tỷ trọng rất lớn nguồn vốn cho nền kinh tế đang được cung cấp thông qua hệ thống ngân hàng. Tổng dư nợ tín dụng hiện khoảng 19,4 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 145% GDP. Đây là mức rất cao đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam và tạo áp lực rất lớn lên hệ thống tài chính. Riêng năm 2025, tín dụng tăng khoảng 19,07%, tương đương gần 3 triệu tỷ đồng được bơm thêm vào nền kinh tế. Tuy nhiên, không phải toàn bộ số vốn này đều đi vào sản xuất kinh doanh. Một phần đáng kể được dùng cho tiêu dùng. Phần còn lại mới được phân bổ cho khu vực sản xuất và phi sản xuất.

Theo TS Tuấn, điều quan trọng không chỉ là tín dụng tăng bao nhiêu mà là dòng vốn đó được phân bổ như thế nào. Nếu tín dụng tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực phi sản xuất thì sẽ làm gia tăng rủi ro vĩ mô và tạo áp lực rất lớn lên hệ thống tài chính. Theo ước tính, tín dụng dành cho tiêu dùng hiện khoảng 7,6% GDP, trong đó tiêu dùng thuần khoảng 4,7% GDP. Tín dụng dành cho đầu tư khoảng 10,9% GDP. Trong phần đầu tư này, khu vực FDI chiếm khoảng 4,7% GDP; các tập đoàn lớn khoảng 1,6% GDP; còn lại là doanh nghiệp và hộ kinh doanh thuộc các khu vực khác.

TS Đỗ Thiên Anh Tuấn cho rằng, trong khi hệ thống ngân hàng đang gánh phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế thì thị trường chứng khoán vẫn chưa thực sự phát huy được vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn. Đến cuối năm 2025, quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán khoảng 108% GDP, trong đó khoảng 79% là cổ phiếu và khoảng 30% là trái phiếu. Tuy nhiên, vốn hóa thị trường không phản ánh trực tiếp khả năng huy động vốn thực sự. Điều quan trọng không phải là giá trị các tài sản tài chính đang niêm yết mà là lượng vốn mới được huy động thông qua phát hành cổ phiếu và trái phiếu trên thị trường sơ cấp.

Năm 2025, tổng giá trị phát hành cổ phiếu khoảng hơn 150 nghìn tỷ đồng – dù là mức cao kỷ lục nhưng vẫn còn rất nhỏ so với nhu cầu vốn của nền kinh tế, đặc biệt là nhu cầu vốn trung và dài hạn. Con số này chỉ tương đương khoảng 1,2% GDP.

Đối với trái phiếu doanh nghiệp, TS Tuấn cho biết, tổng lượng phát hành năm vừa rồi khoảng gần 700 nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, phần lớn số tiền này được dùng để đảo nợ và thanh toán các khoản trái phiếu cũ đáo hạn nên phần vốn thực sự bổ sung cho nền kinh tế còn rất hạn chế. Ngoài ra, hơn 90% lượng trái phiếu doanh nghiệp hiện nay đến từ các ngân hàng, doanh nghiệp bất động sản, công ty tài chính và công ty chứng khoán. Nếu loại trừ phần phát hành của ngân hàng – vốn thực chất là huy động vốn trong hệ thống tài chính thì lượng vốn thực sự đi vào đầu tư sản xuất kinh doanh còn lại không nhiều.

Đối với trái phiếu Chính phủ, năm vừa rồi Chính phủ cũng không hoàn thành kế hoạch huy động vốn đề ra. Trong khi đó, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu địa phương cũng rất hạn chế do việc phát hành vẫn đang bị kiểm soát chặt.

Theo tính toán của TS Đỗ Thiên Anh Tuấn, để đạt mục tiêu tăng trưởng cao, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần tăng từ khoảng 32,3% GDP hiện nay lên khoảng 40% GDP. Điều đó đồng nghĩa nền kinh tế phải bổ sung thêm gần 8% GDP vốn đầu tư.
Trong đó, đầu tư của khu vực Nhà nước cần tăng từ khoảng 8,85% GDP lên khoảng 10% GDP. Điều này kéo theo việc tăng thu từ thuế phí cũng như tăng phát hành trái phiếu Chính phủ.

Tuy nhiên, việc Chính phủ huy động vốn quá lớn thông qua trái phiếu có thể tạo ra hiệu ứng “chen lấn” đối với khu vực tư nhân. Khi Nhà nước vay nhiều hơn, mặt bằng lãi suất sẽ bị đẩy lên, khiến doanh nghiệp tư nhân khó tiếp cận vốn hoặc phải chịu chi phí vốn cao hơn. Đối với khu vực tư nhân, tín dụng dành cho đầu tư hiện khoảng 17,4% GDP nhưng mục tiêu cần nâng lên khoảng 22–24% GDP. Đây là áp lực rất lớn lên hệ thống tài chính và đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước phải điều hành cực kỳ linh hoạt để dòng vốn không chảy quá mạnh vào các lĩnh vực phi sản xuất.

Ngoài tín dụng ngân hàng, đầu tư tư nhân từ vốn tự có hiện khoảng 4,8% GDP và cần nâng lên khoảng 6% GDP. Điều này đòi hỏi phải thúc đẩy mạnh tinh thần khởi nghiệp, khuyến khích người dân và doanh nghiệp mạnh dạn bỏ vốn đầu tư và mở rộng sản xuất kinh doanh. Hiện nay, vốn huy động qua thị trường cổ phiếu chỉ khoảng 1,2% GDP nên cần nâng lên khoảng 2–3% GDP. Tương tự, phần vốn thực sự huy động được qua trái phiếu doanh nghiệp cũng cần tăng mạnh trong thời gian tới.

Tuy nhiên, theo TS Đỗ Thiên Anh Tuấn, chỉ các tập đoàn lớn và doanh nghiệp lớn mới đủ khả năng phát hành trái phiếu trên thị trường vốn. Phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn sẽ phải phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng. Đối với FDI, hiện tỷ lệ đóng góp khoảng 5,3% GDP và mục tiêu là nâng lên khoảng 6%. Dù cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, Việt Nam vẫn phải nỗ lực duy trì và nâng cao khả năng thu hút dòng vốn này.

Theo TS Tuấn, các kênh huy động vốn truyền thống hiện nay đã gần chạm tới giới hạn, vì vậy Việt Nam cần phát triển thêm các công cụ tài chính mới, hiện đại hơn để tạo nguồn lực cho tăng trưởng trong giai đoạn tới.

Lữ Ý Nhi

Nguồn DNSG: https://doanhnhansaigon.vn/de-dat-muc-tieu-tang-truong-2-con-so-viet-nam-can-khoang-40-trieu-ty-dong-von-dau-tu-336601.html