Để di sản không chỉ là ký ức
HNN - Huế là đô thị di sản, nhưng sức mạnh văn hóa của Huế không chỉ nằm trong thành quách, cung điện, lăng tẩm hay kiến trúc cổ. Phía sau những di sản hữu hình ấy là thế giới sống động của âm nhạc, lễ hội, tín ngưỡng, nghề thủ công, ẩm thực, trang phục, tri thức dân gian. Đó chính là phần “hồn” làm nên bản sắc Huế.

Biểu diễn Nhã nhạc cung đình Huế trước điện Kiến Trung. Ảnh: Vi Minh
Nhìn lại chặng đường bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể, có thể thấy Huế đã chuyển khá rõ từ kiểm kê, lập hồ sơ, ghi danh sang xây dựng đề án bảo vệ, truyền dạy, giáo dục di sản, gắn với du lịch và chuyển đổi số. Nhưng yêu cầu hôm nay đã cao hơn: Không chỉ bảo tồn từng di sản mà phải quản trị cả một hệ sinh thái di sản sống.
Huế hiện có Nhã nhạc, bài chòi, Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ được UNESCO ghi danh; cùng nhiều di sản trong Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia như ca Huế, lễ hội điện Huệ Nam, Tri thức may, mặc áo dài Huế, nghề dệt Dèng, nghề làm bún Vân Cù, tri thức dân gian về Bún bò Huế...
Điều đáng ghi nhận là Huế sớm nhận thức danh hiệu không phải đích đến. Sau khi Nhã nhạc được UNESCO ghi danh năm 2003, Dự án Bảo tồn và phát huy giá trị Nhã nhạc cung đình Huế được triển khai trong 4 năm, tạo kết quả quan trọng về nghiên cứu, sưu tầm, phục hồi bài bản, đào tạo lực lượng kế cận, trình diễn và quảng bá. Chính nền tảng ấy góp phần duy trì sức sống Nhã nhạc hơn hai thập niên qua.
Sau đó, bài chòi, ca Huế, áo dài Huế, lễ hội điện Huệ Nam lần lượt có các đề án bảo vệ, phát huy riêng. Đó là bước chuyển cần thiết từ “ghi danh” sang “trách nhiệm sau ghi danh”.
Huế cũng đã kiểm kê di sản trên địa bàn, bao gồm di sản phi vật thể, từ trước khi Luật Di sản văn hóa năm 2024 có hiệu lực. Tuy nhiên, bối cảnh mới đòi hỏi cách tiếp cận mới. Không thể chỉ hỏi “Huế có bao nhiêu di sản?”, mà phải biết ai đang nắm giữ di sản, bao nhiêu nghệ nhân cao tuổi, bao nhiêu người còn thực hành, lớp trẻ nào đang học, không gian nào đang mất và loại hình nào có nguy cơ đứt gãy.
Nói cách khác, Huế cần một “bản đồ sức khỏe di sản”. Chỉ khi biết chính xác sức sống của từng loại hình, chính sách mới có thể đi đúng chỗ, đúng người, đúng thời điểm.
Bảo tồn con người
Ở Nhã nhạc, ca Huế, bài chòi, Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu, nghề may áo dài và nhiều loại hình khác, những nghệ nhân am hiểu sâu đang ngày càng cao tuổi trong khi lực lượng kế cận còn mỏng. Đây là nguy cơ đáng lo hơn cả thiếu kinh phí.
Một nghệ nhân mất đi khi tri thức chưa được ghi chép, số hóa, truyền dạy thì một phần di sản có thể mất vĩnh viễn. Vì vậy, chính sách nghệ nhân không nên dừng ở tôn vinh, hỗ trợ mà cần hình thành cơ chế “nghệ nhân - truyền nhân”, xác định người nắm giữ tri thức cốt lõi và tạo điều kiện để họ đào tạo người kế tục.
Hướng đi cần tiếp tục đẩy mạnh là đưa di sản vào trường học. Bài chòi, ca Huế đã được tập huấn cho giáo viên, truyền dạy cho học sinh, hình thành các câu lạc bộ; áo dài Huế cũng đang đi vào hoạt động giáo dục, trải nghiệm.
Điều quan trọng không phải để học sinh biết hát một bài ca Huế hay chơi một ván bài chòi, mà là hình thành một thế hệ công chúng biết hiểu, thưởng thức và trân trọng di sản. Một di sản muốn tồn tại lâu dài phải có cả người thực hành lẫn người thưởng thức. Bởi vậy, giáo dục di sản phải được xem là chiến lược dài hạn, không phải hoạt động ngoại khóa mang tính phong trào.
Bảo tồn và thị trường
Ca Huế cần du lịch để mở rộng công chúng, tạo sinh kế cho nghệ sĩ, nhưng chạy theo thị hiếu có thể làm giảm chất lượng nghệ thuật. Áo dài cần sáng tạo để sống trong đời sống hiện đại, nhưng cách tân tùy tiện có thể làm mờ bản sắc. Tín ngưỡng thờ Mẫu, lễ hội điện Huệ Nam cần quảng bá, nhưng thương mại hóa, sân khấu hóa quá mức lại có thể làm biến dạng giá trị.
Đó là nghịch lý của di sản sống: không phát huy thì dễ mai một, phát huy quá mức lại dễ biến dạng. Vì vậy, phải xác định đâu là giá trị cốt lõi cần bảo vệ, đâu là không gian dành cho sáng tạo. Du lịch và thị trường phải phục vụ sức sống của di sản, không thể biến di sản thành “nguyên liệu thô” cho kinh doanh.
Cũng không thể để di sản miền núi đứng ngoài tiến trình này. Dèng, Ada Koonh, Bhuôih Haro Tơme của các cộng đồng Tà Ôi, Pa Cô, Cơ Tu gắn chặt với ngôn ngữ, tín ngưỡng, môi trường sống và cấu trúc cộng đồng. Bảo vệ Dèng không chỉ là giữ kỹ thuật dệt; bảo vệ lễ hội không chỉ là phục dựng nghi thức. Điều cần giữ là cả hệ sinh thái văn hóa đã sinh ra di sản.
Chuyển đổi số cũng phải đi vào thực chất. Không thể coi quay phim, chụp ảnh rồi lưu trữ là đã số hóa di sản. Huế cần cơ sở dữ liệu thống nhất về di sản phi vật thể, kết nối thông tin nghệ nhân, người thực hành, bài bản, kỹ thuật, không gian thực hành, tư liệu âm thanh - hình ảnh, mức độ nguy cơ và hoạt động truyền dạy. Khi đó, dữ liệu mới thực sự trở thành công cụ quản lý.
Quan trọng hơn, Huế cần chuyển từ “thành phố có nhiều di sản” thành “thành phố của di sản sống”. Nhã nhạc, ca Huế có thể trở thành sản phẩm nghệ thuật chất lượng cao; áo dài hình thành chuỗi giá trị từ đào tạo, thiết kế, may mặc đến trình diễn, du lịch; Dèng tạo sinh kế bền vững; Bún bò Huế, bún Vân Cù trở thành nguồn lực của công nghiệp ẩm thực.
Không còn đứng ở hai phía
Thước đo cuối cùng cũng không phải Huế có thêm bao nhiêu danh hiệu, mà điều đáng quan tâm là 10 năm, 20 năm nữa còn bao nhiêu người hiểu di sản, bao nhiêu người thực hành, bao nhiêu người trẻ muốn học và bao nhiêu cộng đồng vẫn xem di sản là một phần không thể thiếu của mình.
Đó mới là lúc Huế không chỉ giàu di sản, mà thực sự là đô thị của những di sản đang sống, đang được trao truyền và tiếp tục tạo ra giá trị mới cho tương lai.

