Để di sản thành nguồn lực phát triển kinh tế

Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 đã xác định rõ quan điểm phát triển du lịch văn hóa gắn với bảo tồn và phát huy giá trị di sản, bản sắc văn hóa dân tộc. Trên tinh thần đó, nhiều địa phương đã từng bước khai thác di sản như một trụ cột trong phát triển sản phẩm du lịch.

Các sản phẩm du lịch đặc trưng từ thế mạnh của các di sản văn hóa đã được nhiều địa phương tạo ra và thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế

Các sản phẩm du lịch đặc trưng từ thế mạnh của các di sản văn hóa đã được nhiều địa phương tạo ra và thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế

Từ bảo tồn sang khai thác giá trị

Tiêu biểu, khu vực miền Trung xây dựng thương hiệu “Con đường di sản”, kết nối các điểm đến giàu giá trị lịch sử – văn hóa. Huế và Đà Nẵng phát triển sản phẩm “Tinh hoa Việt Nam”, kết hợp hài hòa giữa di sản, thiên nhiên, biển đảo và không gian đô thị. Quảng Ninh tạo dấu ấn với Carnaval Hạ Long, trong khi Hải Phòng nổi bật với Lễ hội Hoa phượng đỏ. Bên cạnh đó, nhiều di sản sau khi được xếp hạng, bảo tồn và tôn tạo đã trở thành điểm nhấn trên bản đồ du lịch quốc gia và quốc tế, như Quần thể danh thắng Tràng An, Cố đô Huế, Thánh địa Mỹ Sơn hay Phố cổ Hội An.

Đáng chú ý, nhiều địa phương đã ứng dụng công nghệ hiện đại giúp di sản tiếp cận gần hơn với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ. Như tại Hà Nội, chương trình trải nghiệm đêm “Tinh hoa đạo học” áp dụng công nghệ ánh sáng làm nổi bật không gian kiến trúc cùng với các sản phẩm tương tác như “cụ rùa AI”, công nghệ 3D Mapping... đã mở rộng đáng kể khả năng tiếp cận du khách. Hay Làng cổ Đường Lâm tích hợp các yếu tố của di sản văn hóa thành trò chơi lý thú để du khách khám phá làng cổ thông qua ứng dụng. Nhờ đó, theo báo cáo của Sở Du lịch thành phố Hà Nội, năm 2025, ngành du lịch Thủ đô ước đón trên 33,7 triệu lượt khách, tăng 20,87% so với năm 2024.

Có thể thấy, khi được khai thác hợp lý, di sản không chỉ là “ký ức của quá khứ” mà có thể trở thành nguồn lực kinh tế quan trọng cho địa phương. TS. Nguyễn Văn Đoàn, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia khẳng định, phát triển kinh tế di sản là cách thức giúp di sản “sống” trong lòng xã hội hiện đại, trở thành động lực bền vững cho phát triển văn hóa, con người và đất nước Việt Nam trong giai đoạn mới. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi số mạnh mẽ, việc phát triển kinh tế di sản không chỉ là xu thế tất yếu, mà còn là con đường cụ thể để hiện thực hóa chủ trương của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển đất nước nhanh và bền vững.

Gỡ điểm nghẽn, hoàn thiện thể chế và nguồn lực

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, khai thác các giá trị di sản văn hóa trong phát triển du lịch bền vững vẫn còn có hạn chế về hệ thống cơ sở hạ tầng du lịch, chất lượng nguồn nhân lực du lịch. Chia sẻ thực tế tại địa phương, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hưng Yên Bùi Thị Lương cho biết, địa phương có tới hơn 3.700 di tích, nhưng nhiều di tích có quy mô nhỏ, nằm sâu trong khu dân cư khiến việc tổ chức tour gặp khó khăn. Hạ tầng phụ trợ chưa tương xứng với tiềm năng di sản là một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay… Bên cạnh đó, công tác bảo tồn di sản cũng còn nhiều khó khăn, nhiều di tích đứng trước nguy cơ xuống cấp, xâm lấn đất đai, hoặc bị “hiện đại hóa” quá đà làm mất đi giá trị nguyên gốc, nhiều công trình đã cũ kỹ, bị thời gian bào mòn.

Tương tự, tại Hải Phòng, hệ thống di sản kiến trúc đô thị độc đáo, nhưng nhiều công trình chưa được đầu tư đúng mức, chưa hình thành chuỗi sản phẩm đủ mạnh. Công tác chuyển đổi số ở nhiều điểm di tích còn hạn chế; thuyết minh viên thiếu, thông tin giới thiệu di tích chưa hấp dẫn. Cùng với đó, những khó khăn về nguồn nhân lực du lịch, đặc biệt là nhân lực thuyết minh - hướng dẫn viên am hiểu di sản còn thiếu, việc kể câu chuyện di sản còn mờ nhạt, chưa thực sự hấp dẫn du khách.

TS Trần Hữu Sơn, Viện trưởng Viện Văn hóa dân gian ứng dụng cho rằng, trước mắt cần nhận diện các loại hình kinh tế trong ngành kinh tế di sản. Từ đó, phân tích đặc trưng, đặc điểm cũng như giá trị của kinh tế di sản, xử lý các mâu thuẫn phát sinh khi phát triển kinh tế di sản ở cơ sở. Mặt khác, cũng cần phải tiến hành quy hoạch các loại hình trong ngành kinh tế di sản. Xây dựng cơ chế chính sách nhằm khuyến khích, phát triển kinh tế di sản theo ba nguyên tắc: dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa.

Ở góc độ chính sách, PGS.TS Nguyễn Văn Dương - Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam, việc phát triển kinh tế di sản cần được đặt trong tầm nhìn tổng thể về phát triển bền vững văn hóa – con người – môi trường. Cần xây dựng khung pháp lý rõ ràng cho mô hình kinh tế di sản, cho phép khai thác thương mại có kiểm soát, đảm bảo hài hòa giữa bảo tồn và phát triển. Mục tiêu phát triển di sản phải được lồng ghép trong các chiến lược phát triển vùng, du lịch văn hóa, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo. Phát triển nguồn nhân lực và năng lực quản lý và đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản. Đồng thời gắn kết di sản với cộng đồng và sinh kế bền vững: thúc đẩy mô hình bảo tồn dựa vào cộng đồng - nơi người dân không chỉ là đối tượng bảo tồn, mà là chủ thể sáng tạo, thụ hưởng và lan tỏa giá trị. Liên kết di sản với phát triển du lịch văn hóa, làng nghề truyền thống, sản phẩm OCOP để tạo nguồn thu và việc làm tại chỗ.

Hương Giang

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/de-di-san-thanh-nguon-luc-phat-trien-kinh-te-177660.html