Để điệu lý còn ngân
'Ơ xuân đến anh nhớ em/ Ơ hoa nở anh thương em/ Lý tình tang ơ tang tình ơi/ Em ơi…', những câu hát của bài Lý chơi xuân vẫn mộc mạc mà tha thiết như mang theo hồn vía của miền quê xứ Quảng.

Trong hô hát Bài chòi, nhiều nghệ sĩ khéo léo vận dụng, lồng ghép các điệu lý nhằm tạo sắc thái tươi mới. Ảnh: XUÂN SƠN
Để rồi, giữa nhịp sống hối hả, không ít người vẫn đau đáu câu hỏi làm thế nào để mai này, điệu lý còn ngân...
Nỗi đau đáu của người yêu lý
Trong cuộc trò chuyện với nhạc sĩ Trần Hồng, tác giả cuốn Bài bản - Lý trong sân khấu dân tộc (Tuồng, Chèo, Kịch dân ca) vài năm trước, điều đọng lại trong tôi là nỗi trăn trở của một người dành cả cuộc đời cho âm nhạc truyền thống. Ông nói, lý dân gian sở dĩ sống được qua bao thế hệ vì nó bước ra từ đời sống. Người dân hát lý khi chèo ghe, khi ru con, lúc hội hè hay những đêm trăng cắt lúa. Điệu lý vì thế tự nhiên như hơi thở, thấm vào ký ức của bao người.
Trong nỗi đau đáu của mình, ông đã bỏ nhiều năm nghiên cứu, hệ thống hóa các làn điệu lý và bài bản trong các loại hình như tuồng, chèo, kịch dân ca. Theo ông, trong dân ca xứ Quảng, lý đóng vai trò quan trọng trong truyền tải cảm xúc và nội dung câu chuyện, giúp khán giả hiểu sâu sắc giá trị văn hóa và tâm hồn cộng đồng miền Trung. Điều đáng tiếc là, giữa dòng chảy hiện đại, nhiều loại hình giải trí mới khiến khoảng cách giữa lớp trẻ với dân ca truyền thống dần xa hơn. Những điệu lý xứ Quảng như Lý con sáo, Lý chơi xuân, Lý ngựa ô, Lý thiên thai... không còn mấy người biết đến.
Có một điều không thể phủ nhận, điệu lý xứ Quảng sống được nhờ sự gắn kết cộng đồng. Những câu lý gần gũi, linh hoạt, hài hước, đáp ứng nhu cầu giải trí và lưu giữ ký ức dân gian. TS. Tăng Chánh Tín, giảng viên Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) cho rằng, các bài lý quen thuộc có thể biến tấu theo hoàn cảnh nhưng vẫn giữ âm hưởng dân ca đặc trưng của người Quảng ở cách nhả chữ, luyến láy và tiết tấu linh hoạt. Người hát có thể ứng tác, thay đổi lời ca để phù hợp với hoàn cảnh, nhưng vẫn giữ được hồn cốt của làn điệu. Chính điều đó giúp điệu lý tồn tại qua nhiều thế hệ như một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian gần gũi với đời sống.
Cần đặt lý trong câu chuyện bảo tồn
Nhiều ý kiến cho rằng, đã đến lúc, ngành văn hóa cần nghiêm túc đặt lý trong câu chuyện bảo tồn như một phần của chiến lược giáo dục và phát triển văn hóa cộng đồng. Nhạc sĩ Trần Hồng từng nhấn mạnh rằng việc giữ gìn các làn điệu lý phải đi đôi với việc truyền dạy trực tiếp trong đời sống sinh hoạt. Cần để thế hệ trẻ làm quen với lý từ các lớp học, CLB dân ca đến những dịp hội hè, lễ Tết, nơi trẻ em và thanh niên được trải nghiệm thực tế, nghe, hát và chơi nhạc cụ đi kèm.
Điều quan trọng, theo nhạc sĩ Trần Hồng, là hệ thống hóa các bài bản và làn điệu lý trong các loại hình sân khấu dân tộc. Việc tiếp tục nghiên cứu, sưu tầm, ghi âm và biên soạn các làn điệu tiêu biểu giúp lý được bảo tồn và biến chúng thành tư liệu học thuật nghiêm túc, làm nền tảng cho giáo dục và biểu diễn thế hệ sau. “Những làn điệu như Lý con sáo, Lý chơi xuân, Lý ngựa ô, Lý thiên thai… được ghi lại và phân tích bài bản sẽ giúp lớp trẻ học tập, thực hành và phát huy hồn cốt dân ca xứ Quảng”, ông chia sẻ.
Những năm gần đây, không ít trường học ở Đà Nẵng đưa bài chòi, dân ca, điệu lý vào chương trình ngoại khóa, CLB văn hóa học đường và hội thi văn nghệ. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận khách quan, một vài tiết học ngoại khóa chưa thể tạo ra tác động lâu dài nếu thiếu sự kết nối với đời sống cộng đồng và sự hướng dẫn bài bản từ các nghệ nhân. Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Bổn, cảnh báo rằng nhiều điệu lý quý sẽ chỉ còn tồn tại trên giấy trắng mực đen hoặc trong những băng ghi âm cũ kỹ nếu không có chính sách bảo tồn rõ ràng. Ông nhấn mạnh giá trị của điệu lý nằm ở khả năng ghi lại ký ức, cảm xúc, tập quán và đời sống cộng đồng, và việc trẻ em, thanh thiếu niên được tiếp xúc trực tiếp với những làn điệu này là điều thiết yếu để duy trì di sản.
Từng đứng lớp dạy học sinh hát lý, nghệ sĩ Phùng Thị Ngọc Huệ, Trung tâm Bảo tồn di sản văn hóa thế giới Hội An cho biết, phải mất vài ngày để học sinh học một giai điệu lý và phải hơn một tháng mới học được khoảng 30 giai điệu lý cơ bản. Theo chị, việc dạy hát lý không thể nóng vội hay làm theo phong trào. Giới trẻ bây giờ tiếp xúc nhiều với âm nhạc hiện đại nên để cảm được dân ca cần có thời gian. Quan trọng là tạo được sự hứng thú ban đầu, để các em thấy điệu lý gần gũi chứ không phải điều gì quá xa lạ.
Từ thực tế giảng dạy, chị cho biết không ít học sinh ban đầu còn e ngại vì cho rằng dân ca khó hát, chậm nhịp và “không hợp thời”. Nhưng sau một thời gian tiếp xúc, nhiều em bắt đầu thích thú với sự mộc mạc, dí dỏm trong lời ca và cảm nhận được nét đẹp riêng của âm nhạc quê hương. Có em còn chủ động tìm hiểu thêm về bài chòi, tuồng hay các loại hình dân gian khác của miền Trung. Điều đó cho thấy, nếu có cách tiếp cận phù hợp, điệu lý vẫn có khả năng chạm đến người trẻ hôm nay.
Có thể nói, giữa dòng chảy hiện đại, những câu hát “Lý tình tang ơ tang tình ơi…” vẫn âm thầm tồn tại trong ký ức của nhiều người con xứ Quảng. Đó không còn là âm nhạc, mà thủ thỉ như tiếng nói của quê hương, nguồn cội. Điều cần nhất bây giờ có lẽ là tình yêu và sự tiếp nối trước khi một thế hệ nghệ sĩ lớn tuổi đang dần khuất bóng. Bởi nếu những người đang thuộc từng câu lý, từng nhịp phách, từng lối luyến láy đặc trưng của dân ca xứ Quảng không-còn-nữa mà thiếu-đi-lớp-người-kế-cận, thì nguy cơ mai một là điều không thể tránh khỏi.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/de-dieu-ly-con-ngan-3336896.html











